Nội dung lễ thức và hội đình Nam Bộ

Hằng năm, các ngôi đình miếu ở Nam Bộ là nơi diễn ra rất nhiều ngày lễ hội khác nhau. Hệ thống lễ tiết tứ thời bao gồm các ngày Đưa thần, Rước thần, Tết Nguyên Đán và Tết Đoan Ngọ. Đối với riêng từng làng xã, dòng chảy văn hóa còn ghi dấu qua các ngày Niêm ấn, Khai ấn hay Trùng cửu.

Sự xâm nhập của các tôn giáo vào chốn đình trung cũng đem lại những ngày chay tịnh như Rằm Thượng Nguyên, Trung Nguyên và Hạ Nguyên. Ngoài ra, mảng sinh hoạt dân gian còn được lấp đầy bởi lễ Cúng miếu, lễ Tống gió hay nghi thức Đưa khách. Dù vậy, chiếm giữ vị trí trọng yếu nhất vẫn là các ngày lễ Thượng điền, Hạ điền và đặc biệt là đại lễ Kỳ Yên.

Nghi thức Hạ điền được cử hành vào thời điểm bắt đầu mùa mưa, còn lễ Thượng điền diễn ra khi mùa mưa kết thúc. Đây chính là những hình thái biến đổi từ hai kỳ lễ Xuân tế và Thu tế vốn rất quen thuộc của hệ thống đình đền miền Bắc, đóng vai trò là hai kỳ lễ chính trong năm của đa số đình làng phương Nam.

Theo chu kỳ cứ mỗi ba năm, dân làng lại chọn một ngày Thượng điền hoặc Hạ điền để kết hợp tổ chức đại lễ Kỳ Yên. Nếu ngày Hạ điền được chọn, kỳ lễ sẽ mang tên gọi lễ Hạ điền cầu bông nhằm cầu nguyện cho mùa màng bội thu. Trường hợp chọn ngày Thượng điền thì được gọi là Thượng điền chạp miếu (hoặc chạp miễu) với ý nghĩa tế lễ tạ ơn thần linh.

Một số ngôi đình có điều kiện kinh tế tốt sẽ tổ chức đủ cả ba kỳ lễ Thượng điền, Hạ điền và Kỳ Yên trong cùng một năm. Ngược lại, tại những vùng đô thị hoặc khu vực phi nông nghiệp, các ngôi đình thường chỉ còn duy trì duy nhất ngày lễ Kỳ Yên.

Đại lễ Kỳ Yên – Sự kiện văn hóa tâm linh cốt lõi

Kỳ Yên mang ý nghĩa cốt lõi là “cầu an”, do đó người dân địa phương thường gọi bằng những cái tên mộc mạc như lễ vía Thành Hoàng hoặc ngày Giỗ Ông. Đây là ngày hội lớn nhất và quan trọng nhất trong năm của đình làng Nam Bộ. Lễ hội thường kéo dài từ hai đến ba ngày liên tục với lịch cúng tế được quy định cụ thể tùy thuộc vào tập quán từng vùng.

Có nơi chọn tổ chức vào tháng Giêng, tháng Hai mang danh nghĩa “Xuân kỳ” để cầu xin một năm mưa thuận gió hòa. Có nơi lại chọn tháng Tám, tháng Chín theo tinh thần “Thu báo” để làm lễ tạ ơn sau khi đã thu hoạch xong vụ mùa. Ý nghĩa trọn năm thành công còn được thể hiện khi người dân chọn ba tháng mùa Đông để làm lễ “Tế Chưng”, “Tế Lạp” tạ ơn thần, hay còn gọi là dịp Chạp Miếu.

Thời gian mở hội Kỳ Yên thường rơi vào các ngày rằm như 13, 14, 15 hoặc 16, 17 Âm lịch. Đây là những thời điểm có trăng sáng trong tháng, giúp dân làng dễ dàng đi lại và có thể tham gia các hoạt động hội hè suốt đêm. Các nghi thức then chốt trong chương trình mang những nội dung và hình thức rất đặc sắc, phản ánh rõ nét khía cạnh giao tiếp văn hóa dân tộc.

Nghi thức Thỉnh sắc thần và biểu tượng quyền lực triều đình

Sau khi các bộ phận tổ chức và tế lễ tập hợp đầy đủ, ba hồi chiêng trống vang lên cùng tiếng nhạc lễ rộn rã để khai mạc hội đình. Buổi lễ bắt đầu bằng nghi thức Thượng kỳ (thượng cờ biểu tượng), ngay sau đó là lễ Thỉnh sắc thần, hay còn gọi là lễ Rước thần.

Sắc thần vốn là văn bản hành chính do nhà vua ban hành nhằm công nhận hoặc gia phong tước hiệu cho một vị thần linh, mà ở đây chủ yếu là thần Thành Hoàng làng. Tờ sắc phong này thể hiện ý chí chủ quan của triều đình phong kiến nhằm khẳng định quyền lực trị vì.

Tại phương Nam, mục đích phong sắc của các vị vua triều Nguyễn không gì khác ngoài việc xác lập chủ quyền hành chính trên vùng đất mới mở, đặc biệt là trong những hoàn cảnh lịch sử đầy biến động. Các tư liệu thành văn chứng minh rằng trước khi những đạo sắc phong đầu tiên của vua ban cập bến, nhiều ngôi đình miếu đã được cộng đồng di dân tạo dựng từ trước.

Những công trình này ban đầu phụng thờ nhiều vị Thành Hoàng, Phúc thần hoặc nhân vật lịch sử do lưu dân mang danh hiệu từ quê cũ vào hoặc do người dân địa phương tự tôn sùng. Danh hiệu mỹ tự của các thần khi ấy được viết lên một tờ giấy gọi là bản “Hàm ân”, cuộn tròn lại và đặt trang nghiêm trong chiếc hòm nhỏ thờ tại đình.

Công tác phong tặng bách thần được chuẩn bị từ thời đại Gia Long, bắt đầu thành chủ trương từ đời Minh Mạng, nhưng phải đến cuối đời Thiệu Trị (khoảng 1843 – 1847) và đầu đời Tự Đức (khoảng 1850 – 1852) mới được thực hiện đồng loạt. Đặc biệt vào năm Tự Đức thứ năm (1852), đứng trước nguy cơ xâm lược từ thực dân Pháp, triều đình đã vội vã ban sắc phong hàng loạt cho các ngôi đình miếu Nam Bộ nhằm tranh thủ lòng dân và khẳng định mạnh mẽ chủ quyền đất đai.

Về sau dưới thời Pháp thuộc, các vua Nguyễn vẫn tiếp tục ban sắc cho một số thần thánh, nhưng hoạt động này chỉ còn mang tính chất gượng ép, chiếu lệ hoặc là sự mua bán quyền lực. Dù vậy, người nông dân Nam Bộ khi nghênh đón sắc phong của vua ban vẫn giữ một tâm lý phổ biến và hợp lý: sắc thần là biểu tượng của truyền thống dân tộc, thể hiện mối sợi dây liên kết không thể cắt rời giữa nhà, làng và nước. Đó là một nhu cầu văn hóa tinh thần bức thiết, pha lẫn màu sắc tâm linh của những con người tha hương nơi đất khách.

Cung cách tổ chức đám rước thần dưới lòng đường và trên sông

Được mô phỏng theo nghi thức đón rước quan đại thần của triều đình xưa, lễ Thỉnh sắc thần trong ngày hội Kỳ Yên là công đoạn tô đậm nhất sắc màu phong kiến chính thống cho vị chủ thần. Dẫn đầu đoàn rước là cờ “Lệnh” và bức đại kỳ thêu bốn chữ “Thần ân bảo hộ”, hai bên có hệ thống lễ bộ cùng các món nghi trượng dẹp đường. Hai chiếc bảng viết chữ “Tĩnh túc” (giữ yên lặng) và “Hồi tị” (tránh đường) được khiêng đi trước nhằm tạo không gian tôn nghiêm cho thần đi qua.

Theo sau là các món tự khí tượng trưng cho uy quyền như cờ soái, ấn kiếm, võng lọng, áo mão, rồi đến chiếc kiệu long đình chứa hòm sắc thần. Quy định nghiêm ngặt chỉ ra rằng nếu rước vị Thượng đẳng thần thì bốn góc long đình phải bố trí bốn chiếc lọng vàng có chóp thếp vàng cùng 20 bông bèo làm bằng vải treo dưới sườn lọng. Với Trung đẳng thần, lọng vẫn màu vàng nhưng chóp thếp bạc và có 16 bông bèo. Đối với Hạ đẳng thần, đoàn rước sử dụng lọng xanh có chóp thếp thau và 12 bông bèo.

Hộ tống long đình ngoài các chức sắc và dân làng còn có các nam thanh nữ tú đóng vai “Lễ sinh”, “Đào thài”, và đặc biệt là đội lính áp hầu hóa trang chỉnh tề với nón chóp, trang phục đỏ nẹp vàng, chân quấn xà cạp, tay cầm giáo dài và mang guốc go.

Dù mang tính nghi lễ trang trọng, đám rước vẫn tràn ngập không khí hội hè náo nhiệt nhờ tiếng chiêng trống, nhạc lễ, tiếng pháo nổ cùng những điệu múa lân vui nhộn. Trên lộ trình di chuyển, long đình với sắc thần thường ghé vào thăm các vị thần dân gian đang ngự tại các ngôi miếu nhỏ quanh vùng, ngụ ý mời họ cùng về đình chung vui lễ Kỳ Yên. Tại một số đình vùng đồng bằng sông Cửu Long, quy trình này được đảo lại: sau khi rước sắc thần Thành Hoàng về đình xong, ban tế lễ mới tiến hành nghênh đón các vị thần dân gian khác.

Tùy theo địa hình tự nhiên, lễ rước có thể diễn ra trên cạn bằng kiệu long đình hoặc tổ chức trên sông nước bằng những chiếc thuyền kết hoa rực rỡ, gọi là Bè thủy lục.

Tiến trình tế tự và nghệ thuật biểu diễn Hát Bội

Sự hòa quyện giữa yếu tố dân gian và sắc màu chính thống của hội đình Nam Bộ tiếp tục được thể hiện qua các nghi thức nối tiếp sau lễ Thỉnh sắc. Đó là lễ Túc Yết nhằm nghênh chào và ra mắt thần, lễ Đoàn Cả (hay Đàn Cả, lễ Chánh tế) để tạ ơn thần, cùng các lễ tế Tiền Hiền, Hậu Hiền. Các nghi thức này có vị trí và nội dung riêng nhưng cung cách thực hiện tương đối giống nhau. Đi kèm với đó là chuỗi nghi lễ đặc thù như Xây chầu, Đại bội, Tôn vương, Hồi chầu.

Trong đời sống tinh thần người miền Nam, nhắc đến hội đình là phải nói đến câu cửa miệng “yến diên ca xướng”, nghĩa là có đình đám thì phải có tiệc tùng và ca hát, trong đó Hát Bội và Ca nhạc tài tử là hai hoạt động bất di bất dịch. Phần Hát Bội tại đình làng vừa đóng vai trò giải trí văn nghệ (tính chất Hội), vừa là một phần của nghi thức tế tự nghiêm trang (tính chất Lễ) với các tiết mục Xây chầu, Đại bội mở đầu và Tôn vương, Hồi chầu kết thúc.

Lễ Xây chầu (còn gọi là lễ Khai tràng) thường được thực hiện ngay sau lễ Đoàn Cả theo một trong ba hình thức: Xây chầu văn, Xây chầu võ hoặc Xây chầu bán văn bán võ. Dù khác biệt đôi chút về trang phục, các hình thức này đều hướng về ý nghĩa liên quan đến các nguyên lý Kinh Dịch nhằm khai thông Thái Cực. Nghi thức bao gồm công đoạn Tẩy uế và Thử trống trước khi đánh ba hồi chín tiếng trống khai mạc, kết hợp với các lời khấn nguyện cầu mong điều tốt lành cho Thiên – Địa – Nhân.

Tiếp theo là phần múa Đại bội mang âm hưởng của vũ điệu cung đình nhằm giải thích thuyết dịch lý từ Thái Cực sinh Lưỡng Nghi, Tam Tài, Tứ Tượng, Ngũ Hành, Bát Quái thông qua các màn múa cầu chúc mưa thuận gió hòa như Khai thiên tịch địa, Xang nhật nguyệt, Tam Hiền, Tứ Thiên Vương, Đứng cái Đại bội và Bát Tiên hiến thọ. Tiết mục Gia quan tấn tước (hoặc Linh quan dâng liểng chúc mừng) thường được thêm vào cuối phần múa.

Nghi thức Tôn vương mượn một tình tiết kết thúc có hậu trong các vở tuồng cổ (như vở San Hậu) mang nội dung “Tôn vương tức vị” để vua đăng quang và quân thần chúc tụng. Hành động này vừa kết thúc trọn vẹn vở tuồng, vừa tạo ra hình ảnh sân khấu hóa đưa các vai diễn quân thần cùng ban tế lễ của đình vào bái chúc thần Thành Hoàng.

Ngay sau đó, lễ Hồi chầu được cử hành với cung cách gần giống như lúc Xây chầu để chuẩn bị khép lại ngày hội Kỳ Yên. Nghi thức cuối cùng của ngày hội là lễ Hồi sắc, đưa hòm sắc thần trở về nơi lưu giữ an toàn như cũ.

Các công đoạn Xây chầu, Đại bội, Tôn vương nhìn chung chỉ áp dụng nghiêm ngặt tại những ngôi đình thờ thần Thành Hoàng – vị thần đại diện cho vua tại làng xã. Tại các ngôi đền hoặc lăng thờ danh nhân, ban tổ chức có thể linh động lược bỏ, chỉ cần đánh ba hồi chín tiếng trống Khai tiên tương tự như tập quán cúng kiếng tại miền Trung. Dù vậy, một vài địa điểm đặc biệt như Lăng Lê Văn Duyệt vẫn chọn áp dụng đầy đủ các nghi thức nghiêm ngặt này.

Chương trình Hát Bội sau đó sẽ diễn ra với ba nội dung chính, bắt đầu bằng màn Sơ cổ (diễn trích đoạn) nếu điều kiện cho phép. Vở tuồng cổ điển được chọn có thể mở đầu bằng cảnh loạn lạc, trung thần bị nịnh thần hãm hại nhưng kết thúc bắt buộc phải là chính nghĩa thắng gian tà. Chức năng của Hát Bội trong đình mang đậm tính nghi lễ, vì thế bắt buộc phải có viên chức sự thay mặt thần linh và khán giả cầm chầu, dùng tiếng trống “cầm chầu” để khen chê các nghệ nhân một cách nghiêm túc.

Quy định về vật phẩm tế tự và tinh thần bình đẳng trong ngày hội

Theo tục lệ truyền thống, lễ vật tế thần Thành Hoàng chủ yếu gồm xôi và thịt. Heo dùng để tế thần trước đây bắt buộc phải có màu lông đen tuyền do người xưa quan niệm heo lai là không thuần chủng, thiếu tinh khiết. Về sau do điều kiện thực tế khan hiếm, người ta chấp nhận dùng heo trắng.

Tuy nhiên, dù là heo màu gì thì khi dâng cúng vẫn phải giữ nguyên dạng heo toàn sinh (thịt sống nguyên con chỉ cạo sơ lông). Các vị thần vệ tinh khác sẽ có lễ vật riêng tùy theo tính chất thờ phụng, ví dụ ban thờ Tiền Hiền và Hậu Hiền thường được dâng một cái thủ vĩ (gồm đầu và đuôi lợn). Xôi dùng tế tự phải được nấu hoàn toàn bằng nếp và giữ nguyên khối không vò.

Cùng với xôi thịt là mâm ngũ quả và nhang đèn. Tất cả các món lễ vật này phải được người dân đội hoặc gánh đi một cách trang trọng, tuyệt đối không bưng bê bằng tay vì sợ làm ô uế vật phẩm. Vị trí đặt vật phẩm khi bái tế sẽ tương ứng với địa vị xã hội của người hiến cúng.

Mặc dù khâu nghi lễ có sự phân định ngôi thứ, nhưng phần “hội” sau đó tại Nam Bộ lại không hề xuất hiện sự phân biệt nặng nề kiểu “chiếu trên chiếu dưới” như ở miền Ngoài. Tư duy thực tế của người dân nơi đây cho rằng “ai được chia phần nhiều thì phải đóng góp nhiều”.

Họ quan niệm phần biếu tặng mang tính danh dự như chiếc thủ vĩ thực chất lại kém giá trị vật chất, còn phần nặng tính vật chất như nguyên cái bộng heo lại ít mang giá trị tinh thần. Thêm vào đó, từ thời Pháp thuộc, ban bệ Hội Tề (thuộc chính quyền hành chính xã) đã tách khỏi Hội Hương nên không còn trực tiếp can thiệp vào việc tổ chức lễ hội.

Nhờ vậy, người tham gia hội đình về sau có được sự bình đẳng rất lớn. Sau khi kết thúc cúng tế, một phần lễ vật được giữ lại để nấu nướng khoản đãi dân làng tại chỗ, phần còn lại giao cho người hiến cúng mang về nhà làm “lộc của thần”.

Hệ thống nhân sự tham gia hành lễ bao gồm các vị Chủ tế, Bồi tế, ban Nhạc lễ, đội Lễ sinh, Đào thài và các vũ sĩ múa dẫn lễ. Tiến trình cúng tế gồm có bước dâng một tuần hương, ba tuần rượu và một tuần trà. Về sau, người dân bổ sung thêm nghi thức dâng trái cây và bánh ngọt, đây là sự tiếp thu từ tập quán ăn tráng miệng của người phương Tây. Cuối buổi lễ, mỗi vị chức sắc tham gia tế tự sẽ nhận lộc thần gồm một miếng thịt và một ly rượu để tiến hành “thụ lộc” ngay tại chỗ.

Trong mỗi kỳ tế thần Thành Hoàng, thần Nông hay các bậc tiền hiền, anh hùng liệt sĩ, bài văn tế là thành phần bắt buộc. Bài văn được viết bằng giọng điệu trang trọng, sử dụng nhiều từ ngữ Hán – Việt cổ kính để dâng lên thần linh. Nội dung các bài văn tế Tiền Hiền, Hậu Hiền thường mang âm hưởng hào hùng như một bản anh hùng ca và được diễn đọc trên nền nhạc lễ hơi Ai đầy cảm xúc, khác biệt với nền nhạc hơi Xuân khi đọc văn tế thần Thành Hoàng.

Các dạng thức sinh hoạt dân gian và không gian triển lãm nghệ thuật

Bên cạnh các nghi thức tế tự mang tính chính thống, ngày hội Kỳ Yên còn dung nạp nhiều hình thái tín ngưỡng dân gian phong phú. Thông thường, trước hoặc sau ngày lễ chính tại đình sẽ có ngày cúng miếu diễn ra ở các công trình phụ phụ cận.

Tại đây, người dân được thưởng thức các tiết mục diễn xướng của các bà Bóng. Đây là một dạng sinh hoạt Hầu bóng nhưng không tổ chức lên đồng, thay vào đó tập trung vào kỹ thuật Múa bóng rỗi với các bài múa Khai tràng, Chầu mời, Dâng bông, Dâng mâm hay Múa đồ chơi, đặc biệt là tiết mục Hát bóng tuồng với chặp Địa Nàng. Một số ngôi đình còn mời thầy pháp về làm lễ tống ôn tống quái để trừ tà, hoặc mời các nhà sư đến tụng kinh cầu an cho bổn đạo.

Trong quá khứ, các loại hình tín ngưỡng dân gian này từng bị hệ tư tưởng chính thống phê phán và loại bỏ dần theo sự phát triển của khoa học. Tuy nhiên, từ khi nền kinh tế thị trường phát triển cùng chính sách mở cửa, các dạng sinh hoạt văn hóa dân gian này đang có xu hướng khôi phục và phát triển mạnh mẽ.

Mỗi kỳ đại lễ Kỳ Yên còn đóng vai trò như một buổi triển lãm nghệ thuật dân gian sống động của toàn địa phương. Đây là cơ hội để các nghệ nhân và phụ nữ trong vùng trổ tài thổi xôi, làm bánh hoặc trưng chế hoa quả nghệ thuật. Tại các vùng miệt vườn đồng bằng sông Cửu Long, ngày hội Kỳ Yên cũng là dịp để các nhà vườn giới thiệu những giống cây ăn trái mới.

Điển hình tại vùng Thuộc Nhiêu (Mỹ Tho), ngày cúng đình còn gắn liền với tục lệ thi lợn giống với đầy đủ các chủng loại từ heo nọc, heo nái đến heo thịt và heo con. Nhiều trò chơi dân gian truyền thống khác cũng được ban tổ chức lồng ghép vào phần hội.

Tựu trung lại, hoạt động tín ngưỡng và tập tục thờ cúng thần Thành Hoàng tại các ngôi đình Nam Bộ được xây dựng trên nền tảng môi trường văn hóa dân gian phong phú, tích hợp từ nhiều nguồn giao lưu văn hóa khác nhau. Những giá trị truyền thống đậm dà bản sắc dân tộc đã thổi thêm sức sống vào đời sống của những người lưu dân trên vùng đất mới.

Dù xu thế thời đại có nhiều thay đổi, câu nói “Nghe tiếng trống chiến chết điếng trong lòng” và “Nghe tiếng trống chầu cái đầu láng mướt” vẫn phản ánh chân thực tâm trạng náo nức của người dân Nam Bộ mỗi khi mùa lễ hội Kỳ Yên về. Với sự hội tụ của các giá trị lịch sử phong phú quanh hình tượng thần Thành Hoàng bổn cảnh, đình Nam Bộ đã trở thành một thiết chế văn hóa cổ truyền điển hình, mang những nét đặc trưng chung của văn hóa Việt đồng thời khắc họa rõ nét tính cách truyền thống của con người phương Nam.