Lễ hội Dinh Cô Long Hải (Bà Rịa – Vũng Tàu)

Dinh Cô, tên gọi trước đây là Miếu thờ Bà Cô, được khởi công xây dựng và trải qua nhiều lần trùng tu bắt đầu từ khoảng năm 1930. Di tích tọa lạc ngay tại bờ biển Long Hải, thuộc địa phận ấp Hải Sơn, thị trấn Long Hải, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu hiện nay.

Sở hữu khuôn viên diện tích rộng chừng 100 mét vuông, kiến trúc mái lợp ngói cùng kết cấu dựng theo hình tứ trụ, Dinh Cô bài trí một hệ thống hương án phức tạp phụng thờ các vị thần thánh gồm:

  • Vị trí trung tâm: Phụng thờ Bà Cô với cốt tượng cao khoảng 0,5 mét, khoác áo choàng màu đỏ, đầu đội mão có đính hạt sắc trắng. Truyền thuyết dân gian ghi nhận đây là nhân vật có thật tên Lê Thị Hồng, quê gốc ở Phan Rang. Trong một lần theo cha đi buôn bán hàng thủ công bằng đường thủy, cô gặp tai nạn qua đời tại vùng biển Vũng Mù U (hiện nay là mũi Thùy Vân – Vũng Tàu), sau đó thi thể trôi dạt vào đúng vị trí Dinh Cô ngày nay. Sau khi được cư dân an táng tại Hòn Đỏ (một địa điểm gần đó), Cô tỏ ra vô cùng linh ứng qua các buổi nhập đồng, thường xuyên phù hộ công việc ra khơi đánh bắt của ngư dân địa phương. Cảm kích uy linh, người dân hăng hái lập miếu và thành tâm dâng hương phụng thờ. Từ đó, sự linh thiêng của Bà Cô lan truyền rộng rãi, giúp Lễ hội Dinh Cô thu hút đông đảo khách thập phương từ khắp khu vực Nam Bộ tìm về.
  • Hệ thống phối tự: Bên cạnh Bà Cô, theo thời gian người dân đưa thêm nhiều vị thần thánh khác vào thờ phụng như: Diêu Trì Phật Mẫu, Chúa Cậu hay Nhị Vị Công Tử (tức Cậu Tài, Cậu Quý – hai người con của Bà Chúa Ngọc), Ngũ Hành Nương Nương, đặc biệt có cả Tứ Pháp Nương Nương (đầy đủ bốn vị Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện), Ông Địa cùng Thần Tài… Xung quanh khu vực còn bài trí các hương án hoặc miếu nhỏ phụng thờ Cửu Thiên Huyền Nữ, Chúa Ngọc Nương Nương, Chúa Tiên Nương Nương, Quán Thế Âm Bồ Tát, Hỏa Tinh Thánh Mẫu, Quan Thánh Đế Quân…

Nhìn một cách tổng thể, để phối tự cùng Bà Cô, người ta đã đưa vào không gian Dinh Cô một hệ thống thần linh đông đảo, đại diện cho nhiều dòng văn hóa tín ngưỡng, tôn giáo và tộc người khác nhau: từ người Việt (cả ba miền Bắc, Trung, Nam), người Hoa, người Chăm cho đến Phật giáo, Nho giáo (Khổng), Đạo giáo (Lão)… Nổi bật lên trên hết chính là sự gắn kết giữa tín ngưỡng phụng thờ các “Mẹ” đại diện cho các “Mẫu” nhiên thần khắp cả nước với cái trục trung tâm xoay quanh một “Mẫu” nhân thần mang tính địa phương là Bà Cô.

Chương trình nghi lễ trong ngày Giỗ Cô

Hằng năm, Dinh Cô tổ chức nhiều dịp lễ tết như Nguyên Đán, Thượng Nguyên, Đoan Ngọ, Trung Nguyên (Vu Lan), Hạ Nguyên… Dù vậy, sự kiện quy mô nhất vẫn là ngày Giỗ Cô (Lễ hội Bà Cô) diễn ra vào các ngày 10, 11 và 12 tháng 2 âm lịch với các nội dung nghi lễ trọng tâm:

Sáng ngày 10 tháng 2 âm lịch

  • Khoảng 7 giờ: Khởi hành Lễ nghinh Bà Lớn (Thủy Long Thần Nữ) cùng Ông Nam Hải (cá voi) từ Dinh Ông Nam Hải (cùng thuộc địa phận thị trấn Long Hải) về Dinh Cô. Đoàn rước bao gồm các chức sắc đảm nhiệm phần tế lễ, học trò lễ, ban nhạc lễ, đội 12 bạn chèo (trang phục áo đỏ nẹp vàng, đội nón lá vàng, tay cầm chèo), đội lân, cùng hai chiếc long đình và các lá cờ ngũ hành.
  • Khoảng từ 8 giờ đến 10 giờ: Cử hành Lễ tế chính thức tuân theo nghi thức cổ truyền Nam Bộ. Lễ vật chính gồm có heo quay dùng cúng Bà Thủy Long, heo toàn sinh (thịt sống) cúng Ông Nam Hải và các món ăn chay dành cúng Bà Cô.
  • Từ 10 giờ đến chiều: Diễn ra sinh hoạt Hát bóng rỗi.
  • Từ 18 giờ đến 21 giờ: Tổ chức các chương trình diễn xướng dân gian gồm Hát chặp Địa Nàng, Múa bóng (mâm ngũ sắc, mâm vàng, mâm bạc)…
  • Từ 21 giờ trở đi: Biểu diễn Hát Bội với những vở tuồng dân gian quen thuộc.

Ý nghĩa văn hóa của Lễ hội Dinh Cô Long Hải

Xét một cách toàn diện, Lễ hội Dinh Cô – Long Hải về bản chất là dạng ngày hội cầu ngư của cư dân vùng biển địa phương, có sự kết hợp hài hòa giữa tập tục thờ thần Biển (cá voi và Bà Thủy Long) với tín ngưỡng thờ “Mẫu – Nữ thần” vốn ăn sâu trong tâm thức dân gian người nông dân Nam Bộ. Trong không gian ấy, Bà Cô – một “Mẫu” nhân thần địa phương – trở thành điểm tựa quy tụ đông đảo các “Mẫu” khác (chủ yếu là “Mẫu” nhiên thần trên phạm vi cả nước).

Nơi đây đồng thời đóng vai trò điểm hội tụ nhiều luồng văn hóa khác nhau, tạo nên một trọng điểm sinh hoạt lễ hội dân gian mang tính đặc trưng cho hệ thống tín ngưỡng thờ “Mẫu – Nữ thần” của người Việt tại vùng đất Nam Bộ.