Giao tiếp văn hóa và lễ hội người Việt ở Nam Bộ

Giao tiếp văn hóa dân tộc như một động lực phát triển

Bên trong hệ thống lễ hội dân gian của người Việt ở Nam Bộ — một bộ phận trọng yếu thuộc đời sống văn hóa dân gian Nam Bộ — sự giao tiếp văn hóa dân tộc chịu sự chi phối bởi các nhân tố cốt lõi:

  • Nhân tố khách quan: Điều kiện địa lý, lịch sử và kinh tế – xã hội đặc thù của vùng đất miền Nam gắn kết trực tiếp với từng lễ hội.
  • Nhân tố chủ quan: Trình độ, thị hiếu và nhu cầu văn hóa tinh thần (bao gồm tín ngưỡng, tâm linh) của đồng bào người Việt cùng các tộc người cộng cư.

Bên cạnh đó, sự giao tiếp này còn thể hiện quá trình hội nhập các giá trị văn hóa đa dạng, được tích lũy qua nhiều thời kỳ lịch sử và bộc lộ rõ nét qua từng sự kiện lễ hội cụ thể.

Một trong những yếu tố then chốt tạo nền tảng vật chất để các lễ hội dân gian tồn tại như một thiết chế xã hội (hoặc có thể nhìn nhận như một di tích) mang đầy đủ nét đặc trưng văn hóa chính là yếu tố kiến trúc, cảnh quan và môi trường của lễ hội. Đây cũng là không gian để các đặc điểm về khía cạnh giao tiếp văn hóa dân tộc như đã phân tích bên trên có cơ hội tích hợp và biểu hiện theo những phương thức riêng biệt.

Không gian kiến trúc và sự giao thoa văn hóa trong lễ hội

Nhìn chung, hệ thống các công trình kiến trúc gắn với lễ hội dân gian của người Việt tại Nam Bộ mang nét chủ đạo là phong cách nghệ thuật kiến trúc tổng hợp từ cả ba miền Bắc, Trung, Nam (đan xen giữa yếu tố cổ truyền và hiện đại).

Song song với đó là sắc thái văn hóa kiến trúc Trung Quốc chịu ảnh hưởng từ thuyết phong thủy cổ đại, các ý niệm Phật giáo Đại thừa, Khổng giáo, Lão giáo (thể hiện qua các mô típ trang trí Bát tiên, Cá vượt vũ môn, Ngựa xích thổ, Thất đăng, Tứ linh…). Đôi khi, ta còn bắt gặp nét kiến trúc phương Tây (với khu vực Chánh điện, Đông lang, Tây lang cùng chất liệu xi măng cốt thép…), hoặc phảng phất yếu tố kiến trúc Ấn – Hồi, Chăm, Khmer (như trường hợp Miếu Bà Chúa Xứ và chùa Tây An tại Núi Sam, Châu Đốc, An Giang)…

Điều đáng quan tâm là các giá trị phản ánh nội dung giao tiếp văn hóa dân tộc trong những công trình kiến trúc ấy hoàn toàn không mâu thuẫn mà thường rất nhất quán, hay nói cách khác, chúng phản ánh trung thực đặc trưng của quá trình giao tiếp văn hóa dân tộc in dấu trong các yếu tố cấu thành hoạt động lễ hội với tư cách là động lực thúc đẩy sự phát triển của chính các yếu tố đó.

Lấy ví dụ tiêu biểu là lễ hội Lăng Ông Bà Chiểu (quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh) với đối tượng hành lễ chính là Tả quân Lê Văn Duyệt (1764-1832), vị khai quốc công thần dưới triều Nguyễn (vua Gia Long), người có công lớn trong công cuộc khai phá và gìn giữ vùng đất Nam Bộ nhưng khi qua đời lại chịu nhiều oan khuất (bị đục bia, xiềng mộ…). Do đó, về sau nhân dân địa phương, đặc biệt là cộng đồng người Việt và người Hoa, đã tích cực đóng góp công sức lẫn tiền của (với tỷ lệ đóng góp của đồng bào người Hoa rất cao) nhằm xây dựng, trùng tu lăng miếu và thường xuyên tham gia các hoạt động lễ hội diễn ra nơi đây. Kể từ đó, Lăng Lê Văn Duyệt dần chuyển mình thành một trong những trung tâm tổ chức sinh hoạt văn hóa dân gian quan trọng cho cả người Việt lẫn người Hoa ở vùng Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định. Di tích kết hợp lễ hội nơi đây đã trở thành điểm giao tiếp văn hóa tiêu biểu:

“Lăng miếu Lê Văn Duyệt là một công trình nghệ thuật ghi dấu những suy nghĩ, quan niệm của cư dân Nam Bộ về tôn giáo, xã hội; đồng thời thể hiện sự giao lưu văn hóa mạnh mẽ của cư dân người Việt với các cư dân khác mà cụ thể là người Hoa ở vùng Sài Gòn – Gia Định xưa và thành phố Hồ Chí Minh ngày nay. Điều đó được thể hiện rõ nét qua các đồ án trang trí, các vật thờ tại lăng miếu và cả số lượng đông đảo người Hoa đến lăng miếu lễ bái vào các kỳ đại lễ và ngày thường”

Rõ ràng, sự giao tiếp văn hóa Việt – Hoa trong Lễ hội Lăng Ông – Bà Chiểu chính là động lực tích cực thúc đẩy sự phát triển, đồng thời đóng vai trò nhân tố cốt lõi tạo nên bản sắc riêng biệt cho lễ hội này.

Sự phát triển mạnh mẽ của Lễ hội Bà Chúa Xứ – Núi Sam

Tương tự như vậy, Lễ hội Bà Chúa Xứ – Núi Sam, Châu Đốc (An Giang) gắn liền với hệ thống quần thể di tích như Miếu Bà Chúa Xứ, Chùa Tây An, Lăng Thoại Ngọc Hữu… chứa đựng nhiều sắc thái văn hóa đan xen phức hợp. Điều này phần nào phản ánh quá trình giao tiếp văn hóa dân tộc năng động diễn ra tại đây, đồng thời tạo ra cơ sở chủ chốt giải thích cho sức phát triển mãnh liệt của lễ hội này so với các lễ hội dân gian khác ở miền Nam.

Xét về phương diện lịch sử, Lễ hội Bà Chúa Xứ – Núi Sam ra đời muộn hơn nhưng tốc độ phát triển về sau lại vượt trội, thậm chí lấn át cả một số lễ hội lớn khác như Lễ hội Bà Đen – Linh Sơn Thánh Mẫu (Tây Ninh) vốn từng giữ vị trí quy mô nhất ở Nam Bộ. Trước kia, tín ngưỡng kết hợp lễ hội Bà Đen – Linh Sơn Thánh Mẫu với sự hội nhập của nhiều dòng văn hóa tín ngưỡng đa dạng (Việt, Khmer, Phật giáo, Lão giáo…) từng phát triển mạnh và chi phối rộng rãi tại các tỉnh miền Đông Nam Bộ. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan khác nhau, các dòng văn hóa và tín ngưỡng nơi đây về sau dường như bị chững lại, khiến lễ hội Bà Đen không còn duy trì được nhịp độ phát triển sinh động như trước.

Tương tự, các tín ngưỡng lễ hội Thiên Yana (hoặc Chúa Tiên, Chúa Ngọc), Tam Phủ, Tứ Phủ… hầu như cũng gặp nhiều khó khăn để phát triển mạnh mẽ trên vùng đất Nam Bộ vì những lý do tương tự. Trái lại, Lễ hội Bà Chúa Xứ – Núi Sam trong suốt mấy thập kỷ qua duy trì xu thế phát triển năng động trên mọi phương diện, thu hút đông đảo lượng lớn công chúng nhờ sự tích hợp đa dạng các yếu tố, trong đó nổi bật là vai trò tác động từ các lớp văn hóa – tín ngưỡng dồn dập chồng xếp lên nhau tạo nên sức mạnh giao tiếp văn hóa đặc trưng.

Về mặt nguồn gốc, việc người Việt tiếp thu tín ngưỡng Pô Nư Gar từ đồng bào Chăm xuất phát từ điểm chạm giữa tập tục thờ Mẫu và nếp tư duy truyền thống gắn với tín ngưỡng nông nghiệp của cả hai dân tộc. Từ đó, hình ảnh “Bà Mẹ Xứ Sở” của người Chăm hóa thân thành dạng “Bà Thổ thần” (vị thần cai quản ruộng vườn) của người Việt trên vùng đất mới, trở thành tín ngưỡng nông nghiệp đặc thù của lưu dân mở cõi và phát triển rộng khắp Nam Bộ trong giai đoạn đầu, cho đến nay vẫn duy trì độ phủ biến tại nhiều nơi, nhất là ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long.

Vượt ra ngoài khuôn khổ sinh hoạt tín ngưỡng dân gian, về sau một số địa phương còn xu hướng tích hợp thêm nhiều dòng văn hóa khác để đưa Bà Chúa Xứ trở thành đối tượng hành lễ trong các dịp lễ trọng đại, trong đó Lễ hội Bà Chúa Xứ – Núi Sam (Châu Đốc, An Giang) là một ví dụ điển hình.

Điểm hội tụ văn hóa tại vùng biên viễn Tây Nam

Gắn liền với An Giang, vùng đất mang đặc trưng địa – văn hóa nổi danh với Thất Sơn huyền bí nơi vùng đầu nguồn biên giới Tây Nam, điểm mút cuối cùng lưu giữ tầng sâu văn hóa của lưu dân mở cõi đồng thời là không gian hội tụ nhiều dòng, nhiều tầng văn hóa từ các cộng đồng dân tộc khác nhau. Lễ hội Bà Chúa Xứ – Núi Sam sở hữu đầy đủ điều kiện để thực sự trở thành điểm giao hội và tỏa sáng của nhiều giá trị văn hóa phong phú: Việt, Chăm, Hoa, Khmer, Khổng giáo, Phật giáo, Lão giáo… Những giá trị ấy tiếp tục được nhân lên gấp bội thông qua sự tích hợp yếu tố lịch sử (gắn liền danh nhân Nguyễn Văn Thoại vào Lễ Vía Bà tức Lễ hội Bà Chúa Xứ…) và yếu tố hiện đại (trong phong cách cùng tiện nghi tổ chức dịch vụ phục vụ nghỉ dưỡng, ăn ở, tham quan du lịch tại lễ hội…).

Nhìn chung, không kể đến những mặt hạn chế, lễ hội này tạo ra sức hút cùng tầm ảnh hưởng xã hội vô cùng sâu rộng: hàng trăm ngàn lượt người hành hương mỗi năm. Thị xã Châu Đốc vào những dịp cao điểm lễ hội cũng như ngày thường luôn tấp nập du khách và tín đồ hành hương. Nhịp sống, phong cách sinh hoạt và cách thức mưu sinh của người dân bản địa vùng biên giới trở nên vô cùng năng động với các dịch vụ đời sống không ngừng phát triển.

Dẫu sự phát triển ấy chịu tác động từ nhiều nguyên nhân, nhưng không thể phủ nhận vị thế trọng yếu của Lễ hội Bà Chúa Xứ, trung tâm du lịch hành hương lớn nhất Nam Bộ, đơn vị trực tiếp thúc đẩy các quá trình giao tiếp văn hóa và gián tiếp tác động đến sự phát triển kinh tế – xã hội địa phương.

Có thể khẳng định lại một lần nữa, quá trình giao tiếp văn hóa dân tộc trong Lễ hội Bà Chúa Xứ là động lực cốt lõi tác động trực tiếp đến sự phát triển của lễ hội, giúp định hình diện mạo cùng sức hút riêng biệt so với các sự kiện khác. Mở rộng ra, những lễ hội đang phát triển mạnh mẽ trên đất Nam Bộ như Lễ hội Dinh Cô – Long Hải (Bà Rịa – Vũng Tàu), Lễ hội thờ cúng cá voi (Cần Giờ – Thành phố Hồ Chí Minh và một số nơi khác), các lễ hội đình lớn (Bình Thủy – Cần Thơ, Phong Phú – Thành phố Hồ Chí Minh…) hay Lễ hội chùa Bà Thiên Hậu ở Thủ Dầu Một (Bình Dương) và Cai Lậy (Tiền Giang)… nhìn chung đều chịu tác động tích cực từ các quá trình tương tự.

Nhìn xa hơn, xét từ góc độ giao tiếp văn hóa dân tộc trong Lễ hội Bà Chúa Xứ – Núi Sam cũng như các lễ hội gắn liền với tín ngưỡng, tập tục thờ “Mẫu – Nữ thần” (rộng hơn là toàn bộ hệ thống lễ hội dân gian người Việt ở Nam Bộ), người ta không chỉ tìm thấy sức mạnh mang tính động lực phát triển mà còn khám phá ra những tiềm năng góp phần tạo nên bản sắc riêng của hệ thống lễ hội, từ đó đặt nền móng hình thành vùng văn hóa Nam Bộ.

Tiến trình mở cõi và dòng chảy tín ngưỡng Mẫu – Nữ thần

Trên tổng thể, sự phát triển của nền văn minh lúa nước Việt Nam gần như song hành cùng tiến trình mở cõi dựng nước của dân tộc từ vùng trung du xuống đồng bằng, từ Bắc chí Nam nhằm tìm kiếm và khai phá những châu thổ phì nhiêu. Đó cũng chính là hành trình cây lúa nước dẫn dắt người Việt tìm đến các vùng đồng bằng, từ lưu vực sông Hồng, sông Mã cho tới đồng bằng sông Đồng Nai và sông Cửu Long. Quá trình ấy không chỉ mở rộng không gian địa lý mà còn kiến tạo một không gian xã hội ngày càng bao la, một môi trường sống đa dạng, đồng thời tạo cơ hội cho văn hóa tộc Việt mở rộng quan hệ giao tiếp với các nền văn hóa khác để vun đắp nên gia tài văn hóa Việt Nam ngày một phong phú và năng động hơn. Trong đó, tín ngưỡng nông nghiệp vẫn giữ vai trò mạch ngầm tâm thức chi phối xuyên suốt đời sống tinh thần dân tộc, đặc biệt trong các sinh hoạt lễ hội dân gian khắp mọi miền đất nước.

Dù rằng trên nền tảng chung của “văn minh thôn dã” và “văn hóa làng”, bức tranh tổng thể của văn hóa Việt Nam vẫn mang đậm dấu ấn văn hóa, văn minh trồng lúa nước, hệ thống lễ hội dân gian của người Việt ở Nam Bộ với các quá trình giao tiếp văn hóa dân tộc đặc thù đã góp phần tô điểm những đường nét và màu sắc riêng cho vùng văn hóa Nam Bộ – một vùng đất tuy bảo lưu cốt cách chung của văn hóa Việt Nam thống nhất nhưng đồng thời mang những dáng nét độc đáo.

Do tính phổ biến và độ bền vững tương đối, các lễ hội dân gian gắn với tín ngưỡng cùng tập tục thờ “Mẫu – Nữ thần” của người Việt đã trở thành nguồn mạch huyết mạch của dòng chảy văn hóa Việt Nam từ Bắc vào Nam. Rõ ràng tồn tại những mối liên hệ cội nguồn chặt chẽ giữa tín ngưỡng lễ hội thờ Mẫu – Nữ thần của người Việt phổ biến ở Nam Bộ với tập tục lâu đời tương tự trên cả nước. Tại Nam Bộ, những nguồn mạch ấy phân nhánh thành nhiều ngã để giao tiếp với các dòng văn hóa khác nhau, biểu hiện qua nhiều hình thức phong phú nhưng vẫn giữ sự thống nhất về bản chất:

“Theo bước đường Nam tiến của dân tộc Việt, Chúa Liễu đã từ Phủ Giây (Nam Định), Đến Sòng (Thanh Hóa) đi về phương Nam, tạm dừng ở điện Hòn Chén (Huế) và gặp bà Pô Nư Gar tại Nha Trang, gặp Bà Đen (Linh Sơn Thánh mẫu) ở Tây Ninh và Bà Chúa Xứ ở núi Sam – Châu Đốc. Tất cả các bà đều là một mẹ duy nhất trong tâm thức của tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt”

Tuy nhiên, phân tích kỹ lưỡng hơn, các lễ hội gắn với tín ngưỡng thờ “Mẫu – Nữ thần” ở Nam Bộ vẫn sở hữu những nét đặc thù so với miền Bắc. Những vị “Mẫu” tiêu biểu ở miền Bắc như Mẫu Thượng Ngàn, Địa Mẫu hay Mẫu Liễu Hạnh, Tam Phủ, Tứ Phủ… xuất phát từ tín ngưỡng nguyên thủy của người Việt, sau đó chịu sự tác động mạnh mẽ của các yếu tố lịch sử, tôn giáo (đặc biệt là Lão giáo) để trở thành những vị Mẫu mang tính chất cứu thế, là các bậc tiên thánh linh thiêng trong tâm thức truyền thống mang đậm bản sắc Việt. Trong khi đó, các vị “Mẫu” điển hình ở Nam Bộ chủ yếu do người Việt tiếp thu hoặc chịu ảnh hưởng từ các dân tộc, tôn giáo khác nhau như: người Chăm (Thiên Yana, Bà Chúa Tiên, Bà Chúa Ngọc, Bà Chúa Xứ…), người Hoa (Bà Thiên Hậu…), Phật giáo (Bà Quan Âm…), Lão giáo (Cửu Thiên Huyền Nữ…) hoặc mang tính phức hợp kết hợp nhiều yếu tố tín ngưỡng, tôn giáo (như Bà Đen, Bà Cô…).

Đáng chú ý, các vị Mẫu này chiếm vị trí và tác động sâu rộng trong đời sống tinh thần cộng đồng Nam Bộ, không chỉ riêng người Việt mà còn lan tỏa sang nhiều dân tộc khác với tư cách là nữ thần hộ mệnh cho phái nữ (Cửu Thiên Huyền Nữ, Quan Âm, Chúa Tiên, Chúa Ngọc…) hoặc là “Bà chúa” chở che cả một cộng đồng rộng lớn (Bà Chúa Xứ, Bà Đen, Bà Cô…). Hơn thế nữa, vị trí và tác động của các vị Mẫu ấy trong tâm thức người dân, nhất là cộng đồng người Việt, mang tính chất gần gũi của những đấng bậc “độ đời” thông qua hình thức “ngự tại chỗ” để ban ơn, điều hành và cứu giúp con người tránh khỏi hoạn nạn hơn là các vị tiên thánh với thần tích xa vời, quyền năng cao siêu.

Tương tự, ngay cả các hình thức sinh hoạt folklore điển hình trong lễ hội thờ Mẫu ở Nam Bộ cũng thể hiện nét độc đáo riêng, đơn cử như nghệ thuật Múa bóng Nam Bộ mang đậm phong cách diễn xướng nghi lễ thiên về tính chất trò chơi nghệ thuật do các nghệ nhân biểu diễn như một loại hình dịch vụ hơn là một nghi thức tôn giáo đơn thuần.

Dấu ấn tín ngưỡng phồn thực và nghệ thuật diễn xướng dân gian

Bên cạnh tín ngưỡng thờ Mẫu – Nữ thần, bóng dáng của tín ngưỡng phồn thực, một dạng biểu hiện của đa thần giáo ở người Việt cổ sau này chuyển hóa thành các tập tục (thường gắn với lễ hội dân gian) như thờ sinh thực khí, cướp nõ nường, tắt đèn diễn ra tại nhiều nơi ở miền Bắc, cũng được phản ánh phảng phất trong lễ hội dân gian người Việt Nam Bộ qua nghi thức Xang nhật nguyệt trong Lễ Đại Bội tại các kỳ yên ở đình làng, hoặc thể hiện rõ nét hơn qua tục thờ đá nguyên thuỷ tiếp thu từ đồng bào Chăm Bà La Môn (Siva) hay người Khmer (Neăk Tà)… cụ thể hóa thành biểu tượng Linga (cùng Yoni) đặt bên cạnh tượng Bà trong Miếu Bà Chúa Xứ – Núi Sam.

Tín ngưỡng này còn hiện diện đậm nét và phổ biến qua các nghi thức, nghi vật biểu trưng tiếp thu từ điệu múa Chăm của Ôn Ing (Ông Bóng) và Muk Pajâu (Bà Bóng) để hòa quyện vào các tiết mục múa, hát bóng rỗi do các nghệ nhân đồng bóng thể hiện thường xuyên trong các kỳ lễ hội lớn nhỏ khắp dải đất Nam Bộ. Tất cả những yếu tố đó đã bồi đắp nên một diện mạo đặc thù, khó lẫn trong sinh hoạt lễ hội dân gian nói riêng và bức tranh văn hóa truyền thống nói chung của người Việt trên vùng đất Nam Bộ.