Lễ hội dân gian người Việt trong văn hóa Nam Bộ

Quan niệm về “vùng văn hóa” (région culturelle) bắt đầu nhen nhóm hình thành ngay từ thời cổ đại ở châu Âu (Hy Lạp…) cũng như ở châu Á (Trung Quốc…) qua cách lý giải và sự phân biệt về văn hóa giữa dân tộc này với dân tộc khác. Nhưng lý thuyết “vùng văn hóa” chỉ bắt đầu hình thành và phát triển từ thế kỷ XIX trở đi thông qua những trường phái khoa học khác nhau lý giải những tương đồng, khác biệt văn hóa của các dân tộc, về sự phân chia không gian – lãnh thổ của các hiện tượng văn hóa, ví dụ như: thuyết “khuếch tán văn hóa” ở Tây Âu và Mỹ, thuyết “vùng văn hóa” Mỹ, thuyết “vùng (khu vực) văn hóa lịch sử” (hoặc “khu vực lịch sử dân tộc học”) và “loại hình kinh tế – văn hóa” Xô – viết…

Ở Việt Nam, không kể những công trình địa chí, địa phương chí xưa nay cung cấp nhiều tư liệu liên quan nét đặc trưng văn hóa từng địa phương, từng vùng, việc nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn “vùng văn hóa” chỉ mới phát triển một vài thập kỷ gần đây tuy vậy cũng đã thu thập được những kết quả đáng kể. Với hai hướng chính hoặc là đi tìm “tổng thể các đặc trưng tạo nên sắc thái riêng của một vùng văn hóa”, hoặc là “từ hiện tượng văn hóa riêng lẻ… để nhận thức các sắc thái văn hóa địa phương…”, các công trình nghiên cứu về “vùng văn hóa” ở nước ta cũng góp phần làm rõ thêm một số khía cạnh về nhân tố tạo nên vùng văn hóa, vai trò của các trung tâm chính trị, kinh tế trong việc hình thành các vùng văn hóa, ranh giới các vùng văn hóa v.v… trong đó có những nhận định mang tính tổng kết rất đáng chú ý, chẳng hạn như: “Về các nhân tố góp phần tạo nên vùng văn hóa, chúng ta nhấn mạnh một cách đúng mức hơn vai trò môi trường tự nhiên trong mối quan hệ tác động qua lại với con người, chú ý tới nhân tố nguồn gốc tộc người, những tương đồng về trình độ phát triển kinh tế – xã hội, tới nhân tố chính trị, tới ranh giới quốc gia, ảnh hưởng của các tôn giáo, đặc biệt nhấn mạnh tới vai trò của giao lưu ảnh hưởng văn hóa trong việc tạo nên vùng văn hóa”

Một kết quả của việc nghiên cứu như nói trên (cả lý thuyết lẫn ứng dụng) đến nay đó là sự “phân vùng văn hóa” ở nước ta. Trong đó Nam Bộ đã được xác định là một “vùng văn hóa” với những nét đặc trưng cơ bản của nó về địa lý, lịch sử, dân tộc, tôn giáo tín ngưỡng và các sinh hoạt văn hóa dân gian v.v…

Bối cảnh sinh tồn của lưu dân Việt trên vùng đất mới Nam Bộ

Nam Bộ ở buổi đầu khai phá của tộc Việt, với đặc điểm hệ sinh thái thực vật, động vật, thời tiết khí hậu được thiên nhiên ưu đãi hơn so với một số vùng, miền khác; nhưng, như thế không phải là không có khó khăn, nhất là khi người ta phải tiến hành sản xuất ở trên một đồng bằng châu thổ còn hoang hóa, nhiều côn trùng độc hại và có cả thú dữ, công cụ sản xuất lại thô sơ, con người nơi đây phải vượt qua rất nhiều thử thách khắc nghiệt để sinh sống và lắm khi “sống sót được là may”!…

Đã vậy, cả một thời gian khá dài (ít nhất là từ cuối thế kỷ 17 đến đầu thế kỷ 19) chế độ phong kiến lúc ấy chưa đủ điều kiện và thực lực để có những chính sách và biện pháp tốt cho việc quản lý xây dựng văn hóa nơi đây. Nhưng với ý thức không quên hướng về cội nguồn dân tộc, với nhu cầu văn hóa tâm linh và nhu cầu cộng cảm, nhu cầu gắn kết cộng đồng luôn bức xúc, người dân Việt ở Nam Bộ đã tiến hành thực hiện những sinh hoạt tín ngưỡng – lễ hội đơn giản, mang tính tự phát, như thờ Phúc thần, thờ Trời, thờ Phật v.v…

Giao lưu văn hóa dân tộc và sự hình thành vùng văn hóa Nam Bộ

Bên cạnh các vốn hành trang văn hóa truyền thống mang theo trong tâm thức lần lượt được “hồi ức” và được cải biến để sử dụng lại hoặc sáng tạo thêm, việc người Việt tiếp thu các giá trị văn hóa tín ngưỡng – lễ hội thuộc các tộc người khác trong quá trình giao tiếp VHDT trên vùng đất mới gần như là một lẽ đương nhiên và dường như có mục đích tự thân của nó: “Khiêm tốn và nhân hậu, tổ tiên ta luôn kính trọng những thần thánh cũ của người Chăm như là tương đồng với Bà Chúa Thượng Ngàn, Bà Liễu Hạnh. Thần thánh của dân tộc khác vẫn là tiêu biểu cho việc khuyến thiện trừng ác, tuy nhiên về tên gọi, về hình tượng… Đã đồng hóa, đã tôn kính rồi thì người bản địa và người mới đến chẳng ai mang mặc cảm tự ti hoặc tự tôn. Tất cả đều bình đẳng trước thần thánh”

Việc giao lưu tín ngưỡng – lễ hội ấy trước hết và trên hết chính là nhằm để tăng cường thêm sức mạnh tinh thần cho những người lưu dân trong quá trình tiếp xúc, chung sống và quan hệ với những cộng đồng người cũng như với những “thế lực” siêu nhiên trên đường đi đến và ở lại của họ nơi vùng đất mới.

Tương tự như vậy và cứ như thế, những giá trị được tích hợp thông qua các quá trình giao lưu, hội nhập, tiếp biến văn hóa… (giao tiếp VHDT nói chung) ngày càng mở rộng để trở thành những sức mạnh có tác động nhất định trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội ở Nam Bộ như là một động lực phát triển cho chính những lĩnh vực ấy và thậm chí có thể rộng hơn… từ đó mà từng bước góp phần hình thành nên vùng văn hóa Nam Bộ…