Dựa trên hệ thống di tích còn lưu giữ tới ngày nay, đền Hòa Phước (tọa lạc tại đường Chu Văn An, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh) thờ Tam Tòa Thánh Mẫu cùng đền Vạn An (hiện nay là đền Trần Hưng Đạo, số 36 đường Võ Thị Sáu, phường Tân Định, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh) thờ Đức Thánh Trần, được xác định là hai cơ sở tâm linh có các lễ hội mang tính chất nguyên gốc từ đời sống tín ngưỡng dân gian Bắc Bộ xuất hiện sớm nhất tại khu vực Nam Bộ. Đền Hòa Phước khởi nguồn từ năm 1922 trên nền một đền thờ Quan Đế, trong khi đền Vạn An được lập nên vào năm 1932 từ một ngôi chùa Phật giáo. Giai đoạn sau năm 1954, làn sóng di cư của cư dân miền Bắc vào phương Nam đã dẫn tới việc hình thành nhiều cơ sở tín ngưỡng riêng tại các địa phương như Đà Lạt, Vũng Tàu, Pleiku… Từ mốc thời gian này, các lễ hội mang gốc rễ tín ngưỡng dân gian Bắc Bộ mới phát triển sâu rộng ở nhiều nơi tại Nam Bộ, góp phần làm phong phú thêm sắc thái sinh hoạt lễ hội dân gian địa phương.
Do đó, hệ thống tín ngưỡng dân gian Bắc Bộ hiện diện phổ biến ở đất Nam Bộ tập trung cốt lõi vào tục “thờ Mẹ” (Tam Phủ, Tứ Phủ) song hành cùng tục “thờ Cha” (Vua cha Bát Hải, Đức Thánh Trần) vốn có lịch sử lưu truyền lâu đời tại miền Bắc. Trong đó, tín ngưỡng “thờ Mẹ” hướng vào việc phụng thờ một hệ thống nhân thần cùng nhiên thần với thần tích luôn mang xu hướng lịch sử hóa, trần gian hóa xung quanh Thánh Mẫu Liễu Hạnh hoặc Tứ vị Thánh Mẫu (Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Thượng Ngàn, Địa Tiên Thánh Mẫu, Mẫu Thoải), kết hợp cùng Ngũ vị Vương Quan, Tứ vị Chầu Bà, Mười ông Hoàng, Mười hai Cô, Mười hai Cậu, Ngũ Hổ (cọp) và Ông Lốt (rắn)…
Thời gian cử hành và hệ thống các ngày lễ tiệc
Tại các không gian tín ngưỡng dân gian Bắc Bộ trên đất Nam Bộ, hoạt động lễ hội diễn ra khá dày đặc vào các thời điểm: Giao Thừa (Lễ xông đền), Rằm Tháng Giêng (Lễ Thượng Nguyên), Tiệc Cô Bơ (ngày 12 tháng 6 âm lịch), Tiệc Quan đệ Tam (ngày 24 tháng 6 âm lịch), Tiệc ông Hoàng Bảy (ngày 17 tháng 7 âm lịch), Tiệc ông Hoàng Mười (ngày 10 tháng 10 âm lịch), Tiệc Quan đệ Nhị (ngày 11 tháng 11 âm lịch)… Dù vậy, hai kỳ lễ quy mô nhất vẫn là Giỗ Mẹ – tức lễ hội cúng tế Liễu Hạnh Thánh Mẫu (vào ngày 3 tháng 3 âm lịch) và Giỗ Cha – tức lễ hội cúng tế Đức Thánh Trần (ngày 20 tháng 8 âm lịch) cùng Vua cha Bát Hải (ngày 22 tháng 8 âm lịch), ứng với câu tục ngữ dân gian: “Tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ Mẹ”.
Nghi thức tế lễ và sự xuất hiện của ban Tế Nữ Quan
Đặc điểm nổi bật của các kỳ lễ hội kể trên nằm ở nghi thức tế lễ cổ truyền miền Bắc với các vị trí Chánh Tế, Bồi Tế… Những người thực hiện khoác lễ phục, thực hiện động tác dâng lễ từ tốn, di chuyển thẳng hàng từng bước một trên nền nhạc lễ truyền thống Bắc Bộ. Trình tự các bước tế lễ bao gồm: Tề tựu, Quán tẩy, Củ soát tế vật, Tác nhạc, Dâng hương, Dâng rượu, Thụ lộc, Dâng trà, hóa văn… Riêng tại các đền thờ Mẫu còn tổ chức thêm nghi thức Dâng hoa.
Đáng chú ý, từ khoảng năm 1958, đền Trần Hưng Đạo (hiện thuộc Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh) bắt đầu xuất hiện hình thức Tế Nữ Quan tương tự các lễ hội dân gian miền Bắc. Ban tế lễ hoàn toàn là nữ giới, mặc trang phục bắt mắt và thực hiện các nghi thức đặc thù. Sự xuất hiện của Tế Nữ Quan đã góp phần dẹp bỏ tập quán cũ vốn phổ biến tại Nam Bộ thời bấy giờ – nơi các nghi thức tế lễ chỉ do nam giới đảm nhiệm. Từ điểm mốc này, các nhóm Tế Nữ Quan nhanh chóng nhân rộng, tham gia tích cực vào nhiều lễ hội khác ở Nam Bộ, đặc biệt tại những đền thờ Mẫu theo tín ngưỡng dân gian Bắc Bộ.
Nghi thức hầu bóng và các hình thức sinh hoạt hội hè
Song hành với tế lễ truyền thống, các cơ sở tín ngưỡng dân gian Bắc Bộ tại Nam Bộ (nhất là đền thờ Mẫu) còn duy trì nghi thức nhập đồng tương tự miền Bắc nhưng quy trình được tối giản hơn. Các thanh đồng với sự hỗ trợ từ hai người Hầu dâng và ban Cung văn (gồm người hát cùng dàn nhạc cụ: đàn nguyệt, trống, phách, thanh la…) sẽ thực hiện việc giáng đồng, hóa thân thành các vị thánh thuộc hệ thống Tứ Phủ, Vua cha Bát Hải hoặc Đức Thánh Trần nhằm phán truyền, ban phúc lộc, chữa bệnh hay dự đoán số mệnh… Một buổi hầu bóng (lên đồng) thông thường kéo dài từ 2 đến 7 giờ, tuân thủ các bước: Thỉnh bóng, Giáng đồng, Làm việc quan (tế lễ, nhảy múa, ban lộc, phán truyền, chữa bệnh), Thăng đồng…
Khi hành lễ, các Ông đồng, Bà đồng khoác lên mình trang phục cùng điệu bộ riêng biệt tương ứng với từng giá đồng. Đồng thời, lực lượng Cung văn thể hiện các bài hát văn ca ngợi công đức vị thánh nhập đồng với những làn điệu đa dạng, mang nhiều nét dị bản so với bài bản gốc ở các điện, đền, phủ tại Bắc Bộ.
Bên cạnh đó, tùy thuộc vào điều kiện riêng, lễ hội ở các cơ sở tâm linh này còn tổ chức thêm một số hoạt động hội hè như Đánh cờ bói, Đánh cờ người, Hát cửa đình… hoặc một số hình thức sinh hoạt mang màu sắc mê tín như Xin xăm, Dâng sở cầu an, Bán khoán con cái, Xem bói…
Đan xen trong không gian văn hóa dân gian Nam Bộ, hệ thống lễ hội nguyên gốc từ tín ngưỡng dân gian Bắc Bộ (bao gồm tục thờ Mẫu) tuy số lượng không quá nhiều nhưng đã đóng góp tích cực vào việc làm phong phú diện mạo lễ hội vùng đất mới. Sự hiện diện này đồng thời mở ra môi trường thuận lợi cho tiến trình giao lưu văn hóa nội bộ tộc Việt cũng như giữa người Việt với các cộng đồng dân tộc khác thông qua các hoạt động lễ hội dân gian.
