Vào kỷ nguyên thuộc Pháp, một câu ca dao mộc mạc đã ra đời rồi nhanh chóng biến đổi thành giai điệu hát ru quen thuộc, lan tỏa khắp các vùng quê sông nước miền Nam:
“Thông ngôn ký lục lương chục đâu màng,
Lấy chồng thợ bạc đeo vàng đỏ tay!”
Ngành chế tác kim hoàn tại vùng đất phương Nam, đặc biệt là tâm điểm Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định, từng là một trong những lĩnh vực thủ công nghiệp có sự bứt phá vô cùng mạnh mẽ. Sự hưng thịnh này xuất phát từ việc kết hợp nhuần nhuyễn giữa kỹ nghệ cổ truyền của các bậc nghệ nhân từ nhiều xứ sở hội tụ về đây, kết hợp với các lợi thế về khoa học kỹ thuật chuyển biến nhanh chóng hơn hẳn các miền địa lý khác.
Bên cạnh đó, một thị trường giao thương vàng bạc luôn vận động linh hoạt cả về phương diện tiêu dùng nội địa lẫn hoạt động xuất khẩu đã tạo đà cho ngành phát triển. Theo dòng lịch sử, các hộ gia đình theo nghiệp đúc bạc hay những cơ sở kinh doanh vàng bạc đều có xu hướng gắn kết lại thành các nhóm hội đoàn. Họ thiết lập bàn thờ Tổ Sư và tổ chức ngày giỗ Tổ ngay tại không gian sống của một người thợ hoặc một nghệ nhân uy tín trong nhóm.
Để đáp ứng mục tiêu thắt chặt tinh thần đoàn kết trên một quy mô rộng lớn hơn giữa các đồng nghiệp, một công trình chung đã sớm được kiến tạo trong khoảng niên đại 1892 – 1894. Đó là đền thờ Tổ Sư nghề kim hoàn của toàn vùng Nam Bộ, được xây dựng dựa trên nguồn vốn đóng góp tự nguyện từ đội ngũ thợ kim hoàn tại Sài Gòn, Chợ Lớn cùng các tỉnh thuộc khu vực miền Đông và miền Tây.
Công cuộc bán sản xuất và tạo dựng này đặt dưới sự điều hành, dẫn dắt của một số nghệ nhân người Việt bản xứ hoặc từ kinh đô Huế di cư vào, đồng thời có sự chung tay góp sức của các nghệ nhân người Hoa. Công trình linh thiêng này được định vị tại khu vực Chợ Lớn, ngày nay mang số nhà 586 trên tuyến đường Trần Hưng Đạo B, thuộc địa bàn phường 14, quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
Kiến trúc tổng thể của tổ đình Lệ Châu Hội Quán
Mang danh xưng Lệ Châu Hội Quán, tên gọi này vốn được trích nguyên văn từ một vế câu trong cuốn sách học chữ Hán kinh điển Thiên Tự Văn: “Kim trầm lệ thủy, ngân xuất châu đê” (mang ý nghĩa biểu đạt: Vàng chìm dưới dòng sông Lệ, bạc xuất hiện ở bờ bến Châu).
Đối chiếu với các đặc trưng kiến trúc cụ thể, ngôi đền thờ mang tính chất tổ đình ngành bạc này (có những giai đoạn lịch sử từng được dân gian gọi là chùa) sở hữu diện mạo ngoại cảnh rất tương đồng với các ngôi chùa Hoa tọa lạc xung quanh khu vực. Mặc dù có sự tương đồng về cấu trúc xây dựng, toàn bộ các hoạt động tâm linh, tín ngưỡng lẫn việc điều hành lễ hội nơi đây lại hoàn toàn do người Việt đứng ra quản lý và vận hành, với sự tham gia của cả những người thợ kim hoàn người Việt gốc Hoa.
Bố cục của di tích Lệ Châu Hội Quán bao gồm ba tòa nhà bề thế phân bổ trên một khuôn viên đất rộng rãi. Đi qua khoảng sân phía trước được che chắn bằng hệ thống tường rào kiên cố, công trình đầu tiên ta tiếp cận là tòa Bái đường, nơi chuyên dùng để tổ chức các cuộc hội họp, gặp gỡ.
Kế tiếp là tòa nhà thứ hai có diện tích rộng lớn hơn, được định danh là tòa Chánh điện. Nơi đây thiết lập ba hương án tế tự cốt lõi: vị trí trung tâm phụng thờ Tổ Sư, góc bên trái phụng thờ các bậc Tiên Hiền và góc bên phải dành cho các bậc Hậu Hiền.
Nằm ngay sau gian chánh điện là khoảng không gian giếng trời Thiên Tĩnh, và công trình sau cùng là tòa Nghĩa Từ, nơi tôn nghiêm dành riêng để thờ cúng, tưởng nhớ các thế hệ nghệ nhân, thợ chạm bạc đã quá vãng.
Toàn bộ kiến trúc bên trong được tô điểm sinh động bằng hệ thống bao lam chạm trổ đề tài hoa điểu, các bức hoành phi cùng hệ thống câu đối điêu khắc vô cùng tinh xảo. Sự kết hợp này đi kèm các món đồ tự khí chế tác bằng đồng, bằng gỗ có đường nét mỹ thuật sắc nét, mang đậm phong cách nghệ thuật điêu khắc đặc trưng của vùng đất Gia Định xưa.
Tiến trình tổ chức và các nghi thức tế lễ hội truyền thống
Theo tập tục cổ truyền, cứ vào khoảng thời gian từ ngày 6 đến ngày 9 tháng 2 âm lịch thường niên, đông đảo các nghệ nhân cùng thợ kim hoàn (về sau này tổ chức lại thành một đơn vị chung mang tên Hội Lệ Châu) lại đồng loạt hội tụ về ngôi đền Tổ. Họ cùng nhau cử hành ngày lễ hội trọng đại với tên gọi riêng biệt là “Ngày cúng vía thánh tổ kim hoàn”.
Căn cứ vào nội dung lưu vết trong các bài văn tế được tuyên đọc tại đền Lệ Châu, cộng đồng người đời sau chỉ có thể xác định một cách khái quát rằng bậc Tổ Sư có công khai sáng ra nghề kim hoàn tại đây gồm Ba vị mang họ Trần (không rõ danh tính cụ thể), được suy tôn bằng tước hiệu trang trọng: “Kim hoàn mỹ nghệ khai sáng trần công tam vị tổ sư tôn thần”.
Diễn trình cốt lõi của kỳ lễ hội được phân định theo lịch trình cụ thể như sau:
Ngày mùng 6 tháng 2 âm lịch chủ yếu dành cho các công tác thiết trí bàn thờ và chuẩn bị vật dụng lễ hội. Đặc biệt vào thời điểm buổi tối, ngay sau khi kết thúc nghi thức tụng kinh cầu an do các vị chư tăng Phật giáo hành lễ, ban tổ chức sẽ triển khai chương trình gặp mặt liên hoan tiệc rượu kết hợp giao lưu văn nghệ qua các loại hình nghệ thuật như Hát Bội hoặc ca nhạc Cải Lương. Không khí phấn khởi, nhộn nhịp đó đã tạo cho ngày giỗ Tổ tại đây mang đậm màu sắc hội hè ngay từ ngày đầu tiên.
Tuy vậy, các phần đại lễ chính yếu của ngày giỗ Tổ nghề chạm bạc tại Lệ Châu Hội Quán chỉ thực sự bắt đầu vào những ngày tiếp theo với ba cấu phần nghi lễ nghiêm ngặt:
- Lễ Chấp Minh: Cử hành vào khoảng 11 giờ trưa ngày 8 tháng 2 âm lịch, mục đích nhằm ra mắt toàn thể Ban tế lễ và thực hiện nghi thức thỉnh mời Tổ Sư giáng lâm tham dự.
- Lễ Chánh Tế: Tiến hành vào khoảng 23 giờ đêm ngày 8 tháng 2 âm lịch, đây là phần lễ quan trọng nhất nhằm dâng lời tạ ơn sâu sắc lên Tổ nghề.
- Lễ Tế Nghĩa Từ: Tổ chức vào khoảng 16 giờ chiều ngày 9 tháng 2 âm lịch, hướng đến mục tiêu tưởng niệm vong linh các thế hệ nghệ nhân ngành kim hoàn đã khuất bóng.
Ba cấu phần nghi lễ nêu trên có kết cấu tương đồng với Lễ Túc Yết, Lễ Đoàn Cả và phần tế Tiền Hiền, Hậu Hiền trong cấu trúc Lễ hội Kỳ Yên tại các ngôi đình làng ở Nam Bộ, đồng điệu cả về mặt nội dung tinh thần lẫn hình thức biểu diễn.
Chúng ta có thể thấy rõ điều này qua trình tự các bước nghiêm ngặt: khởi đầu bằng Dâng hương, tiếp đến Dâng rượu lần thứ nhất, Đọc văn tế, Dâng rượu lần thứ hai, rồi tuần tự Dâng trà, Dâng quả phẩm, Thu lộc và cuối cùng là Hóa (đốt) bản văn tế. Thành phần nhân sự tham gia vào ban tế lễ cũng được thiết lập đầy đủ chức danh bao gồm Chánh Tế, Bồi Tế, Lễ Sinh, Đào Thải và Nhạc Lễ.
Đặc trưng vật hiến tế và tính chất mở của làng nghề
Một điểm vô cùng đặc biệt cần lưu ý là vật phẩm hiến tế dâng lên Tổ Sư trong phần Lễ Chánh Tế bắt buộc phải là một con heo toàn sinh (tức là heo thịt còn để sống nguyên con), tương tự như quy định tại lễ Kỳ Yên của các ngôi đình Việt.
Thế nhưng, trong diễn trình của Lễ Chấp Minh và Lễ Tế Nghĩa Từ, người ta có thể thay thế bằng vật tế là heo quay. Đồng thời, vật phẩm dâng cúng lên các bậc Tiên Hiền và Hậu Hiền trong tất cả các biến trình nghi lễ bắt buộc phải là hai con vịt luộc, điều này phản ánh rõ nét phong tục thờ cúng tại các cơ sở tín ngưỡng của cộng đồng người Hoa.
Một khía cạnh độc đáo khác nằm ở thành phần con người tham gia. Đến với những ngày lễ hội tại không gian này, bên cạnh những thành viên chính thức thuộc “làng” nghề đúc bạc, còn có sự hiện diện của nhiều đoàn hội đại diện cho các đình, đền, lăng, miếu từ khắp các vùng lân cận tìm về để dâng hương cúng tế, thiết lập mối quan hệ giao hiếu.
Song song với thời điểm đó hoặc ngay sau khi đại lễ giỗ Tổ chung tại đền Lệ Châu kết thúc, các không gian thờ tự Tổ nghề kim hoàn tại các địa phương khác, kể cả các bàn thờ tại gia của những nghệ nhân theo mô hình hội đoàn nhỏ, cũng đồng loạt tiến hành nghi thức cúng Tổ nhưng với quy mô giản tiện hơn.
Những nét đặc trưng cơ bản phác thảo trên đây cho thấy Lễ hội giỗ Tổ nghề kim hoàn tại di tích Lệ Châu Hội Quán đã biến không gian này thành một ngôi Tổ đình linh thiêng. Vị Tổ Sư ngành bạc được phụng thờ nơi đây đã được tôn kính và xem như một vị thần Thành Hoàng chung của toàn thể “làng” nghề kim hoàn khắp xứ Nam Bộ.
Dù không sở hữu sắc phong chính thức của triều đình phong kiến và không tổ chức các hoạt động rước kiệu rầm rộ, kỳ lễ hội giỗ Tổ diễn ra hàng năm tại đây đã trở thành một ngày hội hành hương có tầm vóc lớn, là điểm hẹn gặp gỡ và sinh hoạt văn hóa vô cùng náo nhiệt của cộng đồng thợ kim hoàn trên toàn khu vực.
Khi đặt trong mối liên hệ đối chiếu với một số lễ hội mang tính chất tương tự ở khu vực miền Bắc (chẳng hạn như tại làng Định Công thuộc huyện Thanh Trì, Hà Nội hay làng Đồng Sâm thuộc huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình) hoặc tại địa bàn miền Trung (tiêu biểu là phường Phù Cát thuộc Thành phố Huế), chúng ta có thể nhận diện ra lễ hội thờ Tổ nghề kim hoàn tại Nam Bộ sở hữu nhiều điểm khác biệt rõ rệt về phương thức tổ chức.
Điểm khác biệt lớn nhất nằm ở tính chất “mở” mang quy mô của cả một vùng đất rộng lớn, thay vì bó hẹp trong một không gian cộng đồng làng xã khép kín truyền thống. Tuy vậy, xét về tổng thể thì nội dung tư tưởng, tinh thần cùng mục đích tối cao của lễ hội ở khắp các vùng miền vẫn giữ được sự đồng nhất cốt lõi: đó là tấm lòng tri ân sâu sắc trước công lao to lớn của bậc Tổ nghề cùng các thế hệ nghệ nhân tiền bối đi trước.
Thông qua các hoạt động tâm linh này, người thợ kim hoàn có thêm động lực để phấn đấu củng cố, bảo tồn các giá trị nghề nghiệp cổ truyền, thắt chặt tình đoàn kết giữa những người bạn đồng nghiệp trong mối quan hệ gắn bó hữu cơ với cộng đồng quê hương và đất nước.
