Lễ hội giỗ Tổ ngành Hát Bội và Cải Lương ở Nam Bộ

Do những nét đặc thù về tiến trình lịch sử và cấu trúc xã hội của vùng đất phương Nam, Nam Bộ trở thành một trong các địa bàn cực kỳ lý tưởng cho sự sinh trưởng của bộ môn sân khấu cổ truyền Hát Bội (còn được gọi là Hát Bộ hoặc Tuồng). Loại hình này mang một phong cách biểu diễn rất riêng biệt khi đặt cạnh nghệ thuật Tuồng của các miền đất khác.

Minh chứng rõ nét cho sự thịnh vượng này là hoạt động biểu diễn Hát Bội nhằm phục vụ cúng tế tại các ngôi đình, đền, lăng, miếu diễn ra thường xuyên, rộn ràng quanh năm suốt tháng trên khắp các nẻo đường Nam Bộ.

Song song đó, mảnh đất này cũng chính là cái nôi khai sinh ra sân khấu Cải Lương. Đây là loại hình nghệ thuật được chuyển hóa từ nền tảng sân khấu cổ truyền Tuồng, Chèo kết hợp với kỹ nghệ kịch nói hiện đại của phương Tây, được xếp vào danh mục các loại hình sân khấu ca kịch truyền thống của quốc gia.

Ngay trên chính quê hương gốc gác của mình, bộ môn Cải Lương sở hữu một lực lượng nghệ sĩ, nghệ nhân cùng hệ thống các gánh hát vô cùng hùng hậu với mật độ biểu diễn mạnh mẽ nhất cả nước. Trải qua dòng chảy thời gian, những người theo nghiệp ca diễn này vẫn luôn tự xem bản thân là dòng dõi, con cháu thuộc một ông Tổ nghiệp chung giống như bao loại hình sân khấu cổ truyền khác.

Hệ thống các vị Tổ nghề trong tâm thức giới nghệ sĩ

Căn cứ vào hệ thống giai thoại truyền tụng trong dân gian, ngành sân khấu truyền thống Việt Nam phụng thờ rất nhiều vị Tổ Sư khác nhau. Hệ thống này trải dài từ những nhân vật lịch sử có lai lịch, hành trạng rõ ràng như Từ Đạo Hạnh, Đào Duy Từ cho đến các gương mặt có tiểu sử mang màu sắc mờ ảo như Phạm Thị Trân, Đào Văn Só, Đặng Hồng Lân, Lý Nguyên Cát.

Thậm chí, có cả những nhân vật mang gốc gác từ vương quốc bên ngoài như Đông Phương Sóc, Can Cung Hầu hoặc các hình tượng huyền thoại phiếm chỉ khác.

Tại không gian Nam Bộ, ngoài việc tiếp nối phụng thờ các vị Tổ xa xưa kể trên, giới nghệ sĩ Hát Bội và Cải Lương còn tôn kính những bậc Tổ nghề gần gũi hơn. Họ vốn là các nhân vật lịch sử có công trạng vĩ đại trong việc kiến thiết, tạo dựng ngành nghề như Đào Tấn, Cao Văn Lầu, kết hợp phụng thờ một số vị Tổ mang tính chất huyền thoại.

Điển hình như trong giới làm nghề vẫn lưu truyền câu chuyện về ba vị Hoàng tử có tên Càn, Chơn, Chất do quá say mê nghệ thuật ca diễn đã quyết định từ bỏ lầu son gác tía, trốn chạy khỏi triều đình rồi cuối cùng qua đời trên một cây vông nem. Chính vì giai thoại này, các pho cốt tượng cũng như phần ngai thờ Tổ Sư đều được đục đẽo từ thân cây vông nem, đồng thời người làm nghề luôn kiêng cữ việc mang guốc làm bằng gỗ vông.

Một điểm đáng lưu tâm là bên cạnh ngôi vị Tổ Sư, trong diễn trình cử hành lễ hội giỗ Tổ, giới Hát Bội và Cải Lương phương Nam còn lập tiệc cúng tế các vị Thánh Sư, Tiên Sư, Tam Giáo Đạo Sư, Thập Nhị Công Nghệ, Lão Lang Đại Thần cùng các bậc Tiên Hiền, Hậu Hiền.

Đây là tập hợp các bậc thánh hiển, thầy tuồng có công gầy dựng ngành nghề sân khấu cổ truyền, kết hợp cả các ngành nghề bổ trợ như nhạc công, vũ công, thợ mộc, thợ rèn, thầy thuốc, người đi buôn và cả những bậc thầy truyền bá đạo lý tôn giáo, đi kèm việc tưởng nhớ các thế hệ đồng nghiệp đã khuất bóng.

Họ cũng không bao giờ quên việc thiết lập hương án thờ Ông Quán và Bà Quán để tri ân những con người từng ra tay giúp đỡ, nuôi nấng, cưu mang đoàn đào kép trên suốt chặng đường lang bạt lưu diễn khắp các vùng miền.

Diễn trình đại lễ giỗ Tổ chung của toàn ngành sân khấu

Tuân theo tập tục văn hóa chung của cả nước, tại Nam Bộ, đại lễ giỗ Tổ được ấn định diễn ra vào ngày 12 tháng 8 âm lịch hàng năm tại khắp các đoàn Hát Bội và Cải Lương. Tuy nhiên, trước đó một ngày vào mùng 11 tháng 8 âm lịch, bắt đầu từ khoảng niên đại 1950, một kỳ lễ hội giỗ Tổ chung cho toàn thể ngành nghề đã được thiết lập tổ chức định kỳ, đều đặn tại khu vực trụ sở của Hội Ái Hữu Nghệ Sĩ.

Công trình này từ niên đại 1981 được định danh là Nhà truyền thống sân khấu, tọa lạc tại số nhà 133 trên tuyến đường Cô Bắc, Sài Gòn (ngày nay thuộc địa giới Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh).

Kỳ lễ hội giỗ Tổ chung của ngành Hát Bội và Cải Lương ở phương Nam bao gồm các bước nghi thức nền tảng như sau:

Khởi đầu bằng ba hồi Trống thỉnh Tổ vang lên giòn giã, vị chủ tế là một bậc nghệ sĩ lão thành có uy tín cao trong nghề sẽ tiến hành nghi thức Niệm hương bái bạch trước bàn thờ Tổ Sư. Kế tiếp là việc cử hành nghi thức Đại Bội với các bước tiến trình tương tự như trong lễ Kỳ Yên tại các ngôi đình làng.

Sau khi hoàn tất nghi thức Đại Bội, toàn thể các nghệ sĩ sẽ lần lượt tiến lên dâng hương và cúi lạy Tổ nghề, tuân thủ nghiêm ngặt theo trật tự tuổi đời lẫn tuổi nghề: các bậc tiền bối cao niên thực hiện lễ trước, thế hệ trẻ tiếp bước theo sau.

Sau cùng là chương trình biểu diễn nghệ thuật Hát hầu Tổ, nơi các nghệ sĩ cống hiến những bài bản, trích đoạn tâm đắc và xuất sắc nhất trong cuộc đời làm nghề của mình. Không gian ngày hội lúc này vừa mang màu sắc thiêng liêng, kính cẩn, vừa ngập tràn sự ấm cúng.

Kỳ lễ khép lại bằng phần tiệc liên hoan với sự góp mặt đông vui của giới nghệ sĩ cùng các vị khách mời thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, hoạt động ca diễn giao lưu vẫn tiếp diễn ra với bầu không khí càng về khuya càng náo nhiệt, phấn khởi.

Quy chuẩn thiết lập ban thờ và nghi thức cúng Ông tại các gánh hát

Kỳ lễ giỗ Tổ tổ chức riêng tại nội bộ các đoàn hát thường được gọi bằng cái tên giản dị là Lễ cúng Ông. Dẫu vậy, các bước nghi thức vẫn được tiến hành cực kỳ trang trọng, thậm chí còn có phần chi tiết hơn cả đại lễ giỗ chung kể trên.

Trước khi ngày giỗ diễn ra, toàn bộ đoàn hát đã đồng lòng tổ chức một số đêm Diễn cúng Tổ. Toàn bộ nguồn kinh phí thu được từ các buổi biểu diễn này được quy tụ lại để trang trải cho việc mua sắm vật phẩm lễ hội của đoàn. Từ thời điểm tối ngày 10 tháng 8 âm lịch, mọi người đã bắt tay vào công việc lau dọn bàn thờ Tổ, thực hiện việc tắm tượng và thay đổi xiêm y mới cho các pho cốt tượng Tổ Sư.

Đến sáng ngày 11 tháng 8, không gian sân khấu của gánh hát được cải biến hoàn toàn thành nơi hành lễ với bàn thờ Tổ được thiết lập trang nghiêm, bao gồm hệ thống ngai thờ, hương án và bài vị sắp xếp theo thứ bậc nghiêm ngặt:

  • Vị trí thượng tầng cao nhất: Nơi đặt ngai thờ và cốt tượng của Tổ Sư tối cao.
  • Tầng kế tiếp phía dưới: Nơi an vị bài vị Tiên Sư, Hội Đồng Lưỡng Ban, Thập Nhị Công Nghệ cùng Tiền Hiền và Hậu Hiền.

Mạch phân cấp tiếp tục trải dài xuống các tầng dưới:

  • Góc bên trái: Nơi đặt tượng Bạch Hồ (hình đầu cọp, được giới nghề tôn xưng là Tổ của hàng kép võ).
  • Góc bên phải: Nơi an vị tượng Linh Quan Thổ Địa (hình mặt ông Địa, được xem là Tổ của hàng kép hề).
  • Vị trí dưới cùng hạ tầng: Nơi đặt bàn thờ Ông Ngỗ Nghịch (vị thần có chức năng yểm trị, trấn áp sự phá phách, gây rối loạn nội bộ đoàn).

Đồng thời trong khoảng thời gian đó, ở không gian phía ngoài cửa rạp hát, ngay dưới gốc của một cây cổ thụ lớn, người ta cũng dựng lên một bàn thờ nhỏ dành cho Ông Bà Chú Quán nhằm biểu thị lòng biết ơn đối với những vị mạnh thường quân từng dang tay giúp đỡ nghệ sĩ.

Vào đêm ngày 11 tháng 8 âm lịch (khoảng tầm 19 giờ), toàn đoàn hát sẽ cùng thực hiện Lễ cúng Ông bằng các món vật phẩm chay như chè, xôi, mâm ngũ quả. Đến sáng ngày hôm sau, tức ngày mùng 12 tháng 8 âm lịch (vào khoảng 9 giờ), đại lễ giỗ Tổ chính thức được cử hành với các mâm lễ mặn bao gồm heo quay, gà vịt luộc, bánh trái.

Buổi lễ có sự hiện diện đông đủ của toàn thể nhân sự trong đoàn, bao gồm cả những người đã rời gánh hát, đi kèm các vị khách quý và các nhà tài trợ. Nghi thức mở đầu dựa trên nền nhạc của ba hồi Trống thỉnh Tổ, ông Nhưng và ông Bẩu của đoàn hát với trang phục khăn áo chỉnh tề sẽ tiến vào dâng hương, niệm hương trước bàn thờ Tổ.

Ngay khi tiếng trống dứt, dàn nhạc cổ truyền sẽ khởi tấu Bài Hạ, toàn thể mọi người lần lượt tiến vào dâng hương bái lạy Tổ nghề theo nguyên tắc “tiên khách hậu chủ”, đồng thời căn cứ vào thứ bậc tuổi tác cùng vai vế trong gánh hát. Phần sau cùng là tiệc mặn giao lưu và văn nghệ liên hoan trong một bầu không khí thân tình, thoải mái.

Giá trị nhân văn và sức sống của ngày hội giỗ Tổ phương Nam

Lễ hội giỗ Tổ của ngành Hát Bội và Cải Lương tại không gian Nam Bộ nói riêng, nằm trong dòng chảy của ngày hội Giỗ Tổ sân khấu cổ truyền trên quy mô cả nước nói chung, thực sự là một tập tục văn hóa và hình thái tín ngưỡng cực kỳ độc đáo của dân tộc Việt Nam.

Khi đặt trong mối liên hệ đối sánh với nhiều quốc gia khác, hiếm thấy một nơi nào trên thế giới cho đến thời đại ngày nay vẫn bảo tồn được những ngày lễ hội có sức lan tỏa sâu rộng trong lòng quần chúng nhân dân và chứa đựng nhiều tầng ý nghĩa nhân văn đến thế.

Nếu như trong các giai đoạn lịch sử trước kia, có những thời điểm nghề xướng ca từng bị các quan niệm chính thống của chế độ cũ nhìn nhận bằng con mắt định kiến “xướng ca vô loài”, thì sự hiện tồn của những ngày Giỗ Tổ này đã khẳng định một tư duy hoàn toàn đối lập.

Nó không chỉ tôn vinh tinh thần yêu chuộng văn nghệ – một nét tính cách vô cùng đặc trưng trong dòng chảy văn hóa dân tộc – mà sâu sắc hơn, hoạt động này còn góp phần khẳng định tính chất thanh cao cùng cái “đạo” lớn của nghề sân khấu.

Tập tục này minh chứng rằng những người chọn đi theo nghiệp ca diễn, những bậc nghệ nhân tài cao đức trọng có công lao to lớn trong việc tạo dựng ngành nghề hoàn toàn có thể được nhân dân phong thần, phong thánh và được phụng thờ trang trọng như các vị thần thánh khác trong nghi lễ Kỳ Yên.

Bên cạnh đó, kỳ lễ hội này còn là không gian gặp gỡ, giao lưu sinh hoạt nghề nghiệp của những con người có chung mối duyên với “nghiệp” sân khấu, là lời nhắc nhở sâu sắc về truyền thống ứng xử “tôn sư trọng nghệ” và đạo lý “uống nước nhớ nguồn” vốn là nền tảng đạo đức phổ quát của toàn thể cộng đồng.

Xét riêng tại địa bàn Nam Bộ, thông qua diễn trình cử hành Lễ hội giỗ Tổ sân khấu Hát Bội và Cải Lương, hậu thế còn nhận diện được sự đa dạng, nét sinh động và sức sống mãnh liệt của nền sân khấu cổ truyền dân tộc.

Tất cả các giá trị đó được phản chiếu sắc nét qua danh mục các đối tượng phối thờ cùng vị Tổ Sư, qua các hình thái cúng tế cùng phương thức sinh hoạt hội hè tại đây, đặc biệt là thông qua sự gắn kết của lực lượng nghệ sĩ sân khấu Cải Lương.

Đây là một đội ngũ vô cùng đông đảo, tuy sở hữu những phong cách nghề nghiệp và kỹ nghệ biểu diễn có nét riêng biệt so với các bộ môn sân khấu khác, nhưng vẫn luôn mang một tấm lòng nhiệt thành, đồng lòng hướng về một vị Tổ chung – biểu tượng thiêng liêng của cội nguồn văn hóa quốc gia, hay nói cách khác, đó chính là một hình thái cùng đồng lòng hướng về cội nguồn dân tộc.