Đền là không gian linh thiêng dành riêng để phụng thờ các vị thần linh, thường được phân chia thành hai nhóm hình tượng rõ rệt: “anh hùng văn hóa” và “anh hùng dân tộc”. Trấn giữ trong hệ thống tâm linh này bao gồm các vị thiên thần, nhiên thần và nhân thần.
Về khái niệm, anh hùng dân tộc là những nhân vật lịch sử bằng xương bằng thịt có thật, đại diện cho vinh quang và niềm tự hào của một giai đoạn nhất định trong công cuộc dựng nước, giữ nước. Những tên tuổi kiệt xuất có thể kể đến như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, Hồ Chí Minh.
Bên cạnh đó, một số vị thần linh khác cũng được tôn vinh như những vị anh hùng dân tộc nhưng có công trạng thấp hơn các bậc đại diện tiêu biểu kể trên, điển hình là các vị tướng lĩnh dưới quyền.
Trong khi đó, “anh hùng văn hóa” lại là những vị thần linh được sinh ra từ tư duy liên tưởng phong phú, bao la ngang tầm vóc trời đất của một cộng đồng cư dân cụ thể. Các vị này có thần thông tạo thiên lập địa và thường chỉ xuất hiện vào kỷ nguyên nguyên thủy thuộc thời tiền sử và sơ sử, tiêu biểu như các vị Mẫu khởi nguyên (Âu Cơ), Tản Viên Sơn Thánh, Phù Đổng Thiên Vương.
Những vị thần tương tự xuất hiện vào thời kỳ đã có sử sách ghi chép thực chất là các vị tối thượng thần mang đặc tính của anh hùng văn hóa như Chử Đồng Tử, Mẫu Liễu Hạnh.
Anh hùng văn hóa luôn trường tồn cùng tiến trình lịch sử và nhận được sự tôn kính sâu sắc từ người đời, bởi vì hành trạng cùng công trạng của các ngài liên tục được hậu thế bồi đắp, bổ sung qua các tích truyện như trợ giúp nhà vua dẹp giặc, hộ dân chống lũ lụt, truyền dạy nghề nông hay các nghề thủ công truyền thống.
Để tạo cảm giác gần gũi hơn với đời sống trần thế, những vị thần này nhiều khi còn được nhân dân hình tượng hóa dưới mô hình một gia đình thần thánh như cặp đôi Tản Viên – Mỵ Nương, hoặc mang tư cách của cặp uyên ương khởi nguyên đại diện cho đất trời như ông Đùng – bà Đà.
Quy tắc sắp xếp thần vị và kết cấu ban thờ tại các ngôi đền
Xét về phương diện bài trí bàn thờ trong đền, rất ít ngôi đền thiết lập một hệ thống thờ tự mang tính chất cộng đồng vạn linh như ở đình làng, mà đa phần chỉ tập trung thờ phụng một vị thần chủ duy nhất. Phương thức thiết lập đơn giản nhất là bố trí bàn thờ trong đền gần tương đồng với cấu trúc tại đình làng: vị trí chính tâm và gần sát vách tường hậu sẽ là nơi ngự lãm của vị thần chủ. Ở hai bên tả hữu của thần chủ có thể có các vị thị giả đứng hầu cận.
Đối với những ngôi đền mà thần điện phối thờ nhiều vị thần khác nhau, quy chuẩn phân định vị trí sẽ dựa vào thứ bậc nghiêm ngặt. Vị thần chủ tối cao (số 1) được an tọa chính giữa, vị thần chủ thứ hai ngự ở phía bên phải, và vị thần chủ thứ ba ngự ở phía bên trái. Cứ tuần tự theo nguyên tắc số chẵn bên phải và số lẻ bên trái (4 – 5, 6 – 7…) mà sắp đặt vị trí trên ban thờ.
Hậu thế khi thực hiện tế tự còn đặc biệt chú trọng đến vai trò của người cha, người mẹ (có thể là nhân vật lịch sử chính thức hoặc do dân gian hư cấu nên) của vị thần chủ. Người ta thường xây dựng hai ban thờ riêng biệt ở hai gian kế bên thuộc khu vực hậu cung, trong đó ban thờ Thánh phụ đặt bên trái và ban thờ Thánh mẫu đặt bên phải.
Một điểm bắt buộc trong kiến trúc là phía sau bàn thờ luôn phải có một khoảng khoảng trống thông thủy nhằm ngăn ngừa tình trạng tượng thờ bị kê áp sát vào tường hậu ẩm mốc. Tại các ngôi chùa, khoảng thông thủy này thường được thiết kế dưới dạng lối đi vòm cuốn nằm dưới gầm của ban thờ Tam Thế.
Các vật phẩm bài trí trên bàn thờ và đồ thờ liên quan trong đền cũng tương đồng với đình làng để tượng trưng cho các tầng trời. Ngoài ra, tại không gian đền cũng bố trí thêm các bàn thờ phụ đặt ngay phía trước bàn thờ chính nhằm mục đích bày biện các mâm lễ mặn khi cúng tế.
Hệ thống bài trí điện thờ Mẫu và cấu trúc Tam Tòa Thánh Mẫu
Trong mạch nguồn tín ngưỡng dân gian, tiêu biểu nhất là điện thờ Mẫu, hệ thống ban thờ được quy chuẩn tương đối rõ nét. Tục thờ Mẫu tại Việt Nam hình thành từ thuở bình minh của lịch sử và không tránh khỏi mối quan hệ tương tác, giao thoa với cung cách thờ tự của các tôn giáo lớn du nhập từ bên ngoài.
Nếu như các ngôi đền thờ thần linh mang đậm yếu tố dân tộc và dân gian thuần túy thường chỉ đặt độc nhất tượng hoặc bài vị của riêng vị thần đó mà không phối thờ chung với các vị thần khác, thì các tôn giáo lớn lại luôn có ba ngôi tối thượng ngự ở vị trí thâm nghiêm nhất để làm điểm tựa cho chân lý tuyệt đối của toàn hệ thống.
Cụ thể, đạo Phật có bộ tượng Tam Thế, đạo Lão có Tam Thanh, đạo Gia Tô có Ba Ngôi (Nho giáo chưa phát triển thành một tôn giáo đúng nghĩa). Mô phỏng theo cấu trúc đó, tín ngưỡng thờ Mẫu thiết lập nên hàng Tam Tòa.
Sự hiện diện của hàng Tam Tòa trong tín ngưỡng dân gian bị chi phối mạnh mẽ bởi nền tảng kinh tế của từng vùng miền. Ở không gian nông thôn gắn liền với canh tác nông nghiệp, Tam Tòa Thánh Mẫu sẽ biểu trưng cho các yếu tố tự nhiên bao gồm Mẫu Thiên, Mẫu Thoải và Mẫu Địa.
Ngược lại, khi tín ngưỡng này dịch chuyển vào không gian đô thị và nhận được sự quan tâm, đóng góp lớn từ giới thương nhân với tâm lý cầu mong “tiền rừng bạc bể”, hệ thống Tam Tòa lại được định danh thành Mẫu Thiên, Mẫu Thượng Ngàn và Mẫu Thoải. Các pho tượng này luôn được an vị ở hàng trong cùng sâu nhất của hậu cung để làm chỗ dựa tâm linh vững chắc cho toàn bộ hệ thống thần điện.
Phân cấp các hàng tượng và vị trí tả hữu trong điện Mẫu
Đối với hệ thống thờ Mẫu, có nhiều địa phương người dân chỉ tập trung phụng thờ một bà chúa riêng biệt gắn liền với lịch sử cộng đồng mình, chẳng hạn như bà Liễu Hạnh hay bà chúa Rừng Roi. Khi đó, vị thần đóng vai trò “thủ điện” này sẽ được rước ngồi ở hàng thứ hai, ngay vị trí chính tâm của thần điện, phối thờ xung quanh là tượng Cô và Cậu hầu cận.
Thông thường ở hai bên tả hữu, người ta cũng thiết lập ban thờ dành cho Thánh phụ và Thánh mẫu của vị thủ điện đó. Ở những ngôi đền có phần hậu cung rộng rãi, đặc biệt là giai đoạn kiến trúc về sau này, người xưa còn đưa thêm tượng của các bà chúa hoặc các chầu có liên quan vào thờ tự ở hai bên vách của hậu cung.
Tuy nhiên về cơ bản, hậu cung thường chỉ là nơi ngự lãm riêng biệt của Tam Tòa Thánh Mẫu và vị thủ điện. Không gian hậu cung luôn được che chắn đóng kín, chỉ để lộ một cửa thờ trổ thủng ở gian giữa để các ngài nhìn thấy chúng sinh ở bên ngoài.
Nằm tiếp sau và gần sát với khu vực hậu cung là một bàn thờ khác thuộc về một không gian có tính chất ít linh thiêng hơn. Thông thường, tầng trên cùng của ban này sẽ đặt bộ tượng Ngọc Hoàng – Nam Tào – Bắc Đẩu, tuân theo quy tắc tượng Nam Tào đứng bên trái và tượng Bắc Đẩu đứng bên phải của Ngọc Hoàng Thượng đế.
Trong một số trường hợp, người ta thay thế bằng tượng tam vị Đức vua cha – một hiện tượng phân thân của Ngọc Hoàng Thượng đế dưới sự ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa nhưng đã được Việt hóa theo tư duy của người nông dân nước ta: vua cha Ngọc Hoàng ngự chính giữa, vua cha Bát Hải bên trái và vua cha Diêm Vương bên phải.
Cũng trên chiếc bàn thờ Ngọc Hoàng này nhưng ở cấp bậc thấp hơn chính là nơi tọa lạc của ngũ vị Tôn ông. Đây là năm vị quan lớn nhận mệnh lệnh và thực thi ý đồ sáng tạo của Mẫu để tạo lập nên thế giới trần gian.
Thứ tự sắp xếp gồm có Quan lớn đệ nhất mặc sắc phục áo đỏ ngồi ở vị trí chính giữa, bốn vị quan lớn khác ngồi dàn đều sang hai bên theo chức năng và tuân thủ yếu tố âm dương: các vị mang yếu tố âm ngồi bên phải (mặc áo màu xanh, màu vàng), các vị mang yếu tố dương ngồi bên trái (mặc áo màu trắng, màu hồng hoặc màu tía).
Ở tầng dưới của hệ thống ngũ vị Tôn ông, người ta thường thiết lập bàn thờ dành cho tứ vị ông Hoàng mà đại diện tiêu biểu là ông Hoàng Ba, ông Hoàng Bảy và ông Hoàng Mười. Tùy thuộc vào việc địa phương đặt trọng tâm vào nhu cầu đời sống nào thì sẽ rước vị ông Hoàng tương ứng ngồi ở vị trí trung tâm.
Ví dụ, nếu cuộc sống gắn liền với sông nước thì bao giờ ông Hoàng Ba (mặc áo trắng) cũng được đặt ngồi giữa; nếu gắn với cầu mong kinh tế thương mại phát triển thì ông Hoàng Mười (mặc áo vàng) sẽ ngồi giữa. Đương nhiên ông Hoàng Bảy – một nhân vật vùng thiểu số thường mặc áo màu vàng, tía hoặc lam – cũng thường xuyên được giới thương nghiệp tôn sùng.
Đối với trường hợp này, phần lớn tứ vị Chầu bà cũng sẽ được đưa vào đặt trong hậu cung. Song, tại những ngôi đền sở hữu không gian rộng rãi, tứ phủ ông Hoàng thường có hẳn một bàn thờ riêng biệt bố trí ở phía bên trái bên trong nội thất của điện chính, còn phía bên phải đối xứng qua sẽ là ban thờ của tứ phủ Chầu bà.
Không gian ngoại cảnh và ý nghĩa bốn hệ thống chức năng trong điện Mẫu
Phía trước cửa điện Mẫu thường xuất hiện hai am hoặc miếu nhỏ dùng để thờ Cô và Cậu, với quy chuẩn thờ Cô bên phải và thờ Cậu bên trái. Ngoài ra, bên trong nhiều điện Mẫu còn tạo dựng một hòn giả sơn mô phỏng cảnh núi non với nhiều hang động, trong đó vị trí chính tâm là hang động thuộc về bà Thượng Ngàn.
Theo quan niệm dân gian xưa, rừng núi là nơi nương náu của các kiếp đời đã qua; trong khi đó Cô và Cậu là những người có đạo đức, có lòng tôn sùng Mẫu nên rất hay được tái sinh ở cõi của bà Thượng Ngàn. Vì lý do đó, tại hòn giả sơn này, ngoài pho tượng của bà Thượng Ngàn, người ta còn phối thờ thêm tượng của thập nhị Tiên Nường cùng những tượng cậu bé liên quan.
Ý nghĩa biểu tượng của các pho tượng thuộc hệ thống điện Mẫu được phân định thành bốn tầng chức năng rất chặt chẽ:
- Hệ sáng tạo: Bao gồm các Thánh Mẫu tối cao.
- Hệ thực hiện ý đồ sáng tạo: Chính là hàng ngũ ngũ vị Tôn ông.
Mạch phân cấp tiếp tục kéo dài xuống phía dưới:
- Hệ thống phát huy ý đồ sáng tạo vào cuộc sống: Do tứ phủ ông Hoàng và tứ phủ Chầu/Chúa bà đảm nhiệm.
- Hệ thống hưởng thành quả sáng tạo: Chính là các Cô và các Cậu ở hàng cuối cùng.
Tín ngưỡng thờ Mẫu có thể xem là bộ xương sống của toàn bộ nền tín ngưỡng dân gian nước ta xuyên suốt từ thời kỳ nguyên thủy cho đến tận ngày nay. Chính vì vậy, hình thái tâm linh này nhiều khi đã dung hợp, hội nhập cả hệ thống thần linh của các địa phương cùng các vị anh hùng có công lao lớn với sự nghiệp dựng nước, giữ nước vào trong cấu trúc điện thờ, mà một trường hợp điển hình nhất là Đức Thánh Trần Hưng Đạo.
Do đó, vào giai đoạn lịch sử gần đây (khoảng đầu thế kỷ XX), nơi thờ tự của ngài nhiều khi được bố trí đặt ở phía bên trái của tòa điện chính. Tùy thuộc vào nhận thức riêng của từng địa phương hoặc do một sự định hướng nào đó, các vị thị giả đứng hầu cận bên tượng Ngài có thể là Yết Kiêu, Dã Tượng hoặc cũng có khi là cô Quỳnh, cô Quế.
Sự khác biệt cốt lõi giữa ban thờ trong đền và chùa
Nhìn một cách tổng thể, bàn thờ của thần linh tại các ngôi đền sở hữu những đặc điểm khác biệt hoàn toàn so với chùa. Đức Phật luôn đề cao triết lý bình đẳng tuyệt đối với tinh thần “ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật chưa thành”, dẫn đến nguyên tắc “lộc hòa đồng phân” trong tu tập và thụ hưởng.
Chính vì vậy, toàn bộ hệ thống tượng Phật trong chùa đều được sắp xếp chung trên một bàn thờ lớn duy nhất, các cấp bậc thứ cấp chỉ liên quan đến mặt chức năng tu hành chứ hoàn toàn không đại diện cho địa vị cao thấp hay uy quyền.
Ngược lại hoàn toàn với tư duy đó, đối với điện Mẫu và các không gian thờ thần linh khác, sự phân chia địa vị, quyền lực lại được thể hiện một cách vô cùng rõ ràng. Hệ quả là hệ thống ban thờ của các vị thần trên trục chính điện thường không được thiết kế cùng chung một khối đá hay khối gỗ liền mạch.
Giữa các ban luôn có sự phân tách cao thấp khác biệt rõ rệt về mặt không gian. Thậm chí, ngay trên cùng một trục thần đạo thẳng hàng nhưng người ta lại thiết lập nên nhiều ban thờ độc lập với các bát hương và chế độ nhang khói hoàn toàn khác nhau.
Những khảo cứu trên đây chỉ khái quát một đôi nét cơ bản về quy chuẩn bài trí đồ thờ trong không gian di tích truyền thống Việt Nam. Đương nhiên, trong thực tế dòng chảy văn hóa luôn tồn tại những trường hợp ngoại lệ, ít nhiều dẫn đến những nét khác biệt nhất định so với hệ thống quy chuẩn chung của cấu trúc tổng thể.
