Ban thờ trong chùa

Trong hệ thống các di sản văn hóa truyền thống, đình làng vốn là một công trình kiến trúc sở hữu rất ít pho tượng. Tính từ thế kỷ XIX trở về trước, không gian đình hầu như không phối thờ tượng. Chỉ đến khi công trình này chuyển hóa công năng và mang tính chất của một ngôi đền vào khoảng thế kỷ XX, người ta mới hãn hữu thấy có ngôi đình tạc tượng để phụng thờ. Ngược lại hoàn toàn với cấu trúc đó, chùa lại là loại hình kiến trúc tập trung số lượng tượng vô cùng phong phú và hệ thống tạo hình này ngày càng phát triển mạnh mẽ qua các thời kỳ.

Dựa trên các dấu tích vật chất còn lưu lại, tòa Phật điện vào thời nhà Lý thực tế có rất ít tượng. Những vết tích hiện hữu trong các ngôi chùa cổ ngày nay chỉ bao gồm độc nhất một pho tượng hoặc một chiếc bệ Phật gắn liền với dấu vết của một pho tượng duy nhất. Điển hình như tại các địa điểm chùa Phật Tích ở Bắc Ninh, chùa Chương Sơn ở Nam Định, chùa Hoàng Kim ở Quốc Oai (Hà Nội) hay chùa Huỳnh Cung ở Thanh Trì (Hà Nội), giới nghiên cứu cũng chỉ tìm thấy một pho tượng Phật hoặc dấu vết nền móng của một bệ tượng.

Nhiều ngôi chùa từ thời nhà Lý dù không còn giữ được các pho tượng nguyên vẹn nhưng phần bệ đá của một pho tượng vẫn hiện rõ nét, tiêu biểu như tại chùa Thày ở Hà Nội hay chùa Chèo ở Bắc Giang. Đối với một số ngôi chùa cổ tại vùng đất Thanh Hóa, chẳng hạn như chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh, giới khoa học hiện chưa thể xác định được niên đại một cách rõ ràng.

Trong giai đoạn lịch sử này, hệ thống ban thờ trong chùa chủ yếu chỉ tập trung phụng thờ các pho tượng bao gồm: tượng Thích Ca Mâu Ni, các vị cổ Phật như Như Lai Đa Bảo và một phần nào đó là sự xuất hiện của tượng Di Lặc. Nhìn nhận một cách tổng thể, không gian Phật điện thời nhà Lý còn tương đối vắng vẻ.

Đặc điểm tư duy tâm linh và hệ thống tượng thời nhà Lý

Thời kỳ nhà Lý là giai đoạn vương triều và đất nước đang tập trung khẳng định chủ quyền độc lập. Điều này đồng nghĩa với việc người dân chú trọng nhiều đến đời sống trần thế thực tại mà chưa hoàn toàn đi sâu vào hệ thống triết học Phật giáo cao siêu. Minh chứng rõ nét là tên gọi các ngôi chùa thời kỳ này thường gắn liền với khát vọng cầu mong sự trường tồn, dài lâu như chùa Diên Hựu, chùa Sùng Phúc, chùa Thiên Phúc, chùa Vạn Phúc, đồng thời mang ý nghĩa đề cao nhà Phật như chùa Linh Ứng.

Trong tinh thần văn hóa ấy, người Việt đương thời chưa dành nhiều sự quan tâm đến thế giới của những kiếp sống đã qua. Vì thế, dẫu cho dòng chảy tâm linh đã thấp thoáng bóng dáng của Tịnh độ tông, nhưng tông phái này ít khi được đề cao, người Việt lúc bấy giờ chủ yếu chú trọng vào Thiền tông và Mật tông.

Một chi tiết lịch sử quan trọng được khắc ghi rõ ràng trên bệ tượng thuộc chùa Hoàng Kim (Hà Nội) do chính nhà sư Trì Bát – vị trụ trì tại ngôi chùa này viết vào năm 1099: “Muốn làm tượng A Di Đà mà vẫn chưa làm được”. Do đó, giới nghiên cứu chưa nghĩ tới việc vào thời nhà Lý đã xuất hiện pho tượng A Di Đà như ở chùa Phật Tích mà một số người trước đây từng định danh.

Nhiều giả thuyết nghi ngờ rằng, pho tượng tại chùa Phật Tích xuyên suốt từ thời nhà Lý cho đến thời Lê mạt không phải là tượng A Di Đà, bởi vì chưa hề có tấm bia đá nào ghi nhận danh vị này, mà tên gọi A Di Đà chỉ bắt đầu được ghi chép lại kể từ thời Pháp thuộc.

Bên cạnh hệ thống tượng Phật ngự trên chính điện, tư liệu khảo sát điền dã còn cho phép khẳng định sự tồn tại của tượng Kim Cương tại chùa Phật Tích và chùa Long Đọi trong tư thế đứng canh giữ cửa tháp, cùng với đó là các pho tượng Kinnara, hình ảnh các nhạc sĩ và vũ nữ thiên thần. Những pho tượng này được bổ sung vào không gian kiến trúc của chùa nhưng hoàn toàn không nằm trên khu vực chính điện.

Về phương diện bài trí bàn thờ dưới triều Lý, ngoài hệ thống bệ Phật, người ta chỉ tìm được một phần của chiếc nhang án cổ với tạo hình chim thần garuda ngồi quặp chân khá ngộ nghĩnh ở góc bệ, hiện vật này đang được lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia.

Sự xuất hiện của nhang án đá thời Trần, Lê sơ và hệ thống tượng thời Mạc

Bước sang thời kỳ nhà Trần và nhà Lê sơ từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XV, các nguồn sử liệu có ghi chép về việc đúc tạc rất nhiều tượng chùa. Tuy nhiên tính đến thời điểm hiện tại, giới khảo cổ vẫn chưa chắc chắn tìm thấy bất kỳ pho tượng Phật hay tượng Bồ Tát cụ thể nào thuộc về giai đoạn này.

Mặc dù vậy, chúng ta vẫn còn lưu giữ được cả một hệ thống nhang án bằng đá có niên đại vào nửa cuối thế kỷ XIV. Các hiện vật này chủ yếu tọa lạc trong những ngôi chùa nằm ven lưu vực sông Đáy, thuộc địa phận các huyện Quốc Oai, Hoài Đức, Thanh Oai, Phúc Thọ của thủ đô Hà Nội.

Dòng nghệ thuật chạm khắc nhang án đá này mang những nét chữ có phần “nghệch ngoạc” của những người thợ dân gian, theo dòng chảy của sông Đáy lan tỏa về đến tận động Thiên Tôn ở Hoa Lư, Ninh Bình, được ghi dấu tại bia vách cửa động có niên đại năm 1375. Hiện nay, các chiếc nhang án đá này đều được chế tác dưới dạng hình hộp chữ nhật với phần đài sen đồng dạng.

Văn bản khắc ở mặt sau của chiếc nhang án tại chùa Bối Khê lập năm 1382 có xác nhận rõ ràng rằng đây là một chiếc bàn đá dùng để đồ thờ chứ không phải bệ đỡ tượng. Rõ ràng vào thời nhà Trần, chiếc nhang án này luôn được đặt kê sát vào bức tường hậu, tiêu biểu như ở chùa Dương Liễu, chùa Cát Quế, chùa Bối Khê, chùa Ngọc Đình.

Nhưng tại những ngôi chùa có số lượng tượng phong phú về sau, chiếc nhang án này đã được đẩy lùi ra phía trước – một hiện tượng bắt đầu xuất hiện dưới thời nhà Mạc. Từ đó có thể hiểu đây là bàn thờ dùng để đặt các món đồ thờ tự là chính, và nhiều khi trong chính những ngôi chùa dân gian ấy hoàn toàn không phối thờ tượng.

Liên hệ thực tế với một số ngôi chùa của người Mường hiện nay, khi chiếc nhang án bằng gỗ đặt sát tường hậu vẫn còn tồn tại, người ta thấy trên tường hậu chỉ viết độc nhất một chữ Phật thay thế cho tượng, chứng minh cho việc không có tượng trên bàn thờ trong chùa này.

Dưới triều đại nhà Mạc, các nhà nghiên cứu hiện đã tìm thấy những pho tượng cụ thể. Thông qua các đặc điểm nghệ thuật và một phần dựa vào hệ thống bia ký, chúng ta xác định được trong chùa thời kỳ này đã có bộ tượng Tam Thế Phật, tượng Phật Thích Ca trong tư thế tọa thiền, tượng Quan Âm đứng, tượng Quan Âm Nam hải, pho tượng Thích Ca sơ sinh và tượng Ngọc Hoàng (lưu ý không có Nam Tào và Bắc Đẩu).

Đồng thời không gian chùa còn có một số pho tượng hậu, tượng của những người thuộc tầng lớp quyền quý thượng lưu như vua, công chúa, bà hoàng (tập trung chủ yếu ở Hải Phòng) cùng các pho tượng khác của giới vương công. Dù vậy, về quy chuẩn bài trí cụ thể như thế nào thì hiện nay chưa có bất kỳ ngôi chùa nào còn lưu giữ đầy đủ nguyên vẹn các pho tượng của thời kỳ này, cho nên giới nghiên cứu cũng chưa rõ được cung cách bài trí đương thời.

Quy chuẩn bài trí Phật điện từ thế kỷ XVII

Đến thế kỷ XVII, bên cạnh những loại hình tượng tương tự như thời nhà Mạc, lần đầu tiên chúng ta bắt gặp sự xuất hiện của bộ tượng Di Đà tam tôn với phong cách tạo hình mang đậm dấu ấn của Mật tông tại chùa Thày. Cũng trong thế kỷ XVII, số lượng các pho tượng cùng cung cách bài trí trên Phật điện đã được thể hiện gần như đồng nhất với các giai đoạn lịch sử về sau.

Tuy nhiên, ở giai đoạn này tuyệt đối chưa có sự hiện diện của tượng Đức Ông, Thánh Tăng, Diêm Vương, bộ ba Ngọc Hoàng – Nam Tào – Bắc Đẩu, hay tượng Phạn Thiên – Đế Thích. Hệ thống tượng thời kỳ này đã bổ sung tượng Tứ Thiên Vương và Tứ Bồ Tát bao gồm Ái Bồ Tát, Ngữ Bồ Tát, Sách Bồ Tát và Quyền Bồ Tát.

Cấu trúc ban thờ trong chùa của một ngôi chùa điển hình dưới thời nhà Mạc và thế kỷ XVII được sắp xếp theo các tầng bậc nghiêm ngặt sau:

  • Hàng trên cùng (Tầng cao nhất): Là nơi ngự của bộ tượng Tam Thế Phật, còn được gọi với các danh xưng tôn kính là Tam Thế Thường Trụ Diệu Pháp Thân hoặc Tam Thế Tam Thiên Phật. Bộ tượng này là biểu tượng đại diện cho 3.000 vị Phật nối tiếp nhau gánh vác sứ mệnh giáo hóa chúng sinh trong ba đại kiếp, bao gồm: trang nghiêm đại kiếp thuộc về quá khứ, hiền kiếp thuộc về hiện tại và tinh tú kiếp thuộc về tương lai.
  • Hàng thứ hai: Là không gian của bộ tượng Di Đà Tam Tôn, hay còn gọi là Di Đà Tiếp Dẫn, mang chức năng đón rước những linh hồn đã chứng được Phật quả về với thế giới Tây phương cực lạc. Trong bộ ba này, phía bên phải là Đại Thế Chí Bồ Tát, phía bên trái là Quan Thế Âm Bồ Tát. Ở thời kỳ này, do đời sống xã hội còn khá ổn định nên chưa xuất hiện hình thái tượng A Di Đà trong tư thế phóng quang (đứng).
  • Hàng thứ ba: Ghi dấu những biểu hiện đầu tiên về sự tồn tại của bộ tượng Hoa Nghiêm Tam Thánh. Cấu trúc bộ tượng gồm có tượng Phật Thích Ca Mâu Ni trong tư thế tay cầm bông hoa sen giơ lên cao. Phía bên phải của Đức Phật là Phổ Hiền Bồ Tát ngồi trên tòa voi trắng, phía bên trái là Văn Thù Bồ Tát cưỡi trên lưng sư tử, cũng có những trường hợp cả hai vị Bồ Tát này đều được tạo hình ngồi trên đài sen.
  • Hàng thứ tư: Ở giai đoạn thời kỳ này hiện chưa thể xác định được quy chuẩn thống nhất. Chỉ riêng tại một số ngôi chùa tọa lạc trong những vùng dân cư thường xuyên gặp phải thiên tai, giặc dã khiến đời sống vật chất và tinh thần của người dân bị khủng hoảng sâu sắc, người ta mới tiến hành tạc tượng Di Lặc để thờ phụng. Việc thờ tự này nhằm cầu mong sự bình an, xuất phát từ điển tích của vị Phật này là “Di Lặc xuất thế, thiên hạ thái bình”. Hiện tượng văn hóa này thường xuất hiện đậm nét ở thế kỷ XVIII nhiều hơn.

Trong thế kỷ XVII, dựa vào hệ thống tượng thực tế, giới nghiên cứu có thể tạm thời nghĩ tới việc tồn tại một vài cung cách bài trí khác biệt tùy thuộc vào đặc điểm kinh tế từng vùng. Đối với những ngôi chùa thông thường, tượng sẽ được sắp xếp theo trật tự nêu trên.

Ngược lại, đối với các ngôi chùa nằm ở vùng ven sông nhờ nhận được sự phát tâm hỗ trợ tài chính mạnh mẽ từ tầng lớp thương nhân, người ta thường tạc pho tượng Quan Âm Nam hải với kích thước rất lớn và đặt trang nghiêm ngay trên trục chính trung tâm của tòa Phật điện. Những minh chứng tiêu biểu cho phong cách này là ở chùa Đa Tốn, chùa Bối Khê ở Hà Nội, hay chùa Tam Sơn, chùa Bút Tháp ở Bắc Ninh. Pho tượng tại chùa Bút Tháp ngày nay được đặt ở khu vực phía bên cạnh, có lẽ là do đã được sắp xếp lại cho thuận tiện vào các thời kỳ lịch sử sau này.

Tại những ngôi chùa không gắn liền với nền kinh tế “sông nước”, người ta vẫn phối thờ tượng Quan Âm Nam hải và tượng Quan Âm tọa sơn. Song, trong trường hợp này, các pho tượng được chế tác với kích thước nhỏ đi nhiều và thường đặt thờ chung trên không gian chính điện. Đôi khi ban quản lý chùa thiết lập bàn thờ riêng, góc bên trái của Phật điện dành cho tượng Quan Âm Nam hải và vị trí tương xứng phía bên phải dành cho tượng Quan Âm tọa sơn.

Hàng thứ năm trên Phật điện có thể có sự xuất hiện của pho tượng Thích Ca sơ sinh. Cho đến nay, giới nghiên cứu chưa tìm thấy chứng tích nào ở thời kỳ này có tượng Phạn Thiên và Đế Thích. Hai pho tượng này có lẽ phải đợi tới nửa cuối thế kỷ XIX mới bắt đầu xuất hiện phổ biến trên các tòa Phật điện ở nước ta.

Một trong những ngôi chùa sở hữu hệ thống tượng Phật cơ bản và phong phú nhất là chùa Tây Phương. Tuy nhiên, công trình này cũng phải đợi đến thời nhà Nguyễn mới có được diện mạo đầy đủ như ngày nay nhờ vào các pho tượng được bổ sung về sau bao gồm: tượng Đức Ông, Thánh Tăng, Thập Điện Diêm Vương, Quan Âm Thị Kính, tượng Thổ Địa, Giám Trai.

Đường đi lễ và ý nghĩa biểu tượng của các vị thần Phật

Cung cách bài trí hệ thống tượng trong chùa luôn có mối liên hệ chặt chẽ với lộ trình đi lễ của thực khách và ý nghĩa sâu sắc của Phật đạo. Quy trình hành lễ của con người khi bước chân vào cửa Phật trước đây thường tuân thủ nghiêm ngặt theo chiều quay của chữ Vạn (tức ngược chiều vận động của kim đồng hồ).

Các Phật tử quan niệm rằng đi thuận theo chiều chữ Vạn sẽ giúp tinh tiến thiện căn, còn nếu đi ngược lại sẽ thiêu đốt mất thiện căn vốn có. Vì lý do đó, thông thường khi vào lễ Phật, người dân sẽ đi vào từ phía cửa bên trái của tòa Phật điện (tương ứng với phía bên phải của người hành hương) để tiếp cận đầu tiên với bàn thờ Đức Ông.

Đức Ông là một vị trưởng giả giàu lòng từ thiện, luôn giàu lòng thương xót những người cô độc, nghèo khổ nên được gọi với danh xưng Cấp Cô Độc. Ngài chính là người đã mua lại khu vườn của thái tử Kỳ Đà để thành kính dâng cúng cho Đức Phật trước khi chứng thành chính quả, biến nơi đây thành ngôi tịnh xá đầu tiên của nhân loại.

Nhờ vào công đức to lớn đó, Đức Phật đã giao trọng trách cho ông được quyền cai quản mọi cảnh quan nội tự của nhà chùa. Vì thế, người dân bắt buộc phải làm lễ trình báo ngài trước rồi mới xin phép được đi vào lễ Phật cùng các vị Bồ Tát phía sau.

Đứng trước bàn thờ Phật, bên cạnh việc tụng kinh thường xuyên dưới sự hướng dẫn của các nhà sư, các Phật tử còn gửi gắm nhiều mong cầu khác nhau cho đời sống thế tục. Trong trường hợp gia đình gặp cảnh “cha khô mẹ héo”, họ sẽ hướng tâm nhìn lên hàng thứ hai của Phật điện, nơi ngự của bộ Di Đà Tam Tôn.

Đối với những ai khát khao muốn tìm lại chân tâm bản thể của con người, họ sẽ hướng lòng mình đến hàng thứ ba với bộ Hoa Nghiêm Tam Thánh. Những người gắn liền với hoạt động thương mại và nghề sông nước thường dành sự quan tâm đặc biệt tới tượng Quan Âm Nam hải. Ngoài ra, các tầng lớp nhân dân khác thường chú ý cầu nguyện trước tượng Quan Âm nói chung, trong đó có tượng Quan Âm tọa sơn – pho tượng vốn được đồng nhất với hình tượng Quan Âm Thị Kính.

Khi đi viếng thăm cảnh chùa, người ta cũng dành sự chú ý đến hệ thống tượng Thập Điện Diêm Vương. Hình tượng này đóng vai trò như một bài học đạo đức răn đe sâu sắc nhằm khuyến khích con người làm điều thiện, trừng trị cái ác. Đối với khu vực bàn thờ Thánh Tăng, những người có hiểu biết thường quan tâm đến ý nghĩa về sự dìu dắt, chỉ đường dẫn lối của tăng chúng đối với chúng sinh trên con đường tu tập đạo hạnh.

Các pho tượng Kim Cương chủ yếu bao gồm hai thế lực đại diện cho việc khuyến thiện và trừng ác. Hệ thống tượng này thường được bài trí tọa lạc ở hai bên của tòa tiền đường, nắm giữ chức năng bảo hộ Phật pháp nên còn được gọi với danh xưng là tượng Hộ Pháp (ở một số ngôi chùa, hệ thống này được làm đầy đủ thành bộ Bát bộ Kim Cương).

Quy tắc bài trí bàn thờ Tổ và không gian điện Mẫu trong khuôn viên chùa

Bên cạnh chính điện, bên trong nhà chùa còn có rất nhiều ban thờ phụ khác dành cho các vị tổ truyền đăng và tổ chùa. Về mặt nguyên tắc kiến trúc, tượng các vị tổ truyền đăng thường được sắp đặt dọc theo hai dãy hành lang nhằm mục đích “đánh dấu” cụ thể về những bước phát triển thăng trầm của Phật giáo trong tiến trình lịch sử.

Sơ đồ tham khảo cách bài trí ban thờ trong chùa truyền thống
Sơ đồ tham khảo cách bài trí ban thờ trong chùa truyền thống

Trong khi đó, tổ chùa là những vị sư đã từng giữ cương vị trụ trì tại chính ngôi chùa đó. Theo quy chuẩn tôn giáo là tổ thì phải luôn đi theo hầu Phật, do đó ngôi nhà tổ trước đây bao giờ cũng phải nằm ngay trên trục trung tâm và tọa lạc ở phía sau tòa Phật điện. Tuy nhiên, do sự suy lạc về mặt nhận thức và lòng tin đối với Phật đạo của người đời sau mà các trật tự bài trí nêu trên hiện nay đã bị thay đổi đi khá nhiều.

Hệ thống tượng trong chùa không chỉ dừng lại ở không gian tâm linh thuần túy của Phật giáo mà thường được bổ sung một cách phổ biến với cả điện thờ Mẫu. Nếu điện Mẫu được tích hợp đặt ngay bên trong tòa nhà hậu, vị trí của nó thường được quy định nằm ở phía bên phải của gian thờ tổ.

Nhưng cùng với sự phát triển mạnh mẽ của hình thái tín ngưỡng này dưới sự ủng hộ của các thế hệ nhà sư, đặc biệt là các sư nữ thời kỳ trước cùng các tín đồ liên quan, nhiều khi điện Mẫu được ban quản lý tách hẳn ra thành một ngôi đền độc lập nằm trong khuôn viên chung của nhà chùa.

Ngôi đền thờ Mẫu này trước đây thường được ưu tiên đặt tại một trong hai vị trí kiến trúc cố định:

  • Vị trí thứ nhất (Trường hợp chùa quay hướng Nam): Điện Mẫu sẽ nằm ở phía bên phải của ngôi chùa. Phần tòa tiền bái của điện Mẫu được thiết kế xây dựng nằm ngang hàng với tòa tiền đường của chùa. Cách sắp xếp này tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc phong thủy cổ “tả nam hữu nữ” do Mẫu thuộc về yếu tố âm. Ở cấu trúc này, ngôi chùa vẫn giữ vững được tư cách và vai trò chủ đạo chính của toàn bộ khuôn viên di tích.
  • Vị trí thứ hai: Kiến trúc riêng biệt của điện Mẫu có thể được bố trí nằm ở phía bên trái của ngôi chùa nhưng mặt tiền lại quay nhìn về hướng Tây. Với lựa chọn này, phần không gian trước mặt điện Mẫu sẽ là khoảng sân hậu thông thoáng, nằm kẹp giữa tòa Phật điện và gian nhà tổ.

Tuy nhiên, trật tự sắp xếp mặt bằng kiến trúc này cho đến ngày nay rất khó giữ được nguyên vẹn, nguyên nhân chủ yếu là do nhận thức về phương hướng phong thủy cũng như vai trò của các vị thần linh trong tâm thức con người đã bị suy lạc đi nhiều. Vì điện thờ Mẫu vốn là một trường hợp đặc biệt của cấu trúc một ngôi đền, nên cung cách bày biện chi tiết trên bàn thờ này chúng xin được phép trình bày cụ thể vào phần sau.