TRẦN TRIỀU
Trong đạo Mẫu Tứ Phủ, người ta còn nhắc tới Phủ Trần Triều, một phủ thuần túy mang tính chất nhân thần. Bởi thế cần xem xét Đức Thánh Trần cùng với các thuộc hạ của ông trong hệ thống điện thần Tứ Phủ cũng như trong thực hành tín ngưỡng.
Về phương diện điện thần, Đức Thánh Trần được coi là một vị Thánh Tứ Phủ. Trong khá nhiều đền, điện của đạo này đều có ban thờ riêng ông cùng với các thuộc hạ. Tuy nhiên, về hàng bậc cũng như phủ của ông trong Tứ Phủ lại không dễ xác định. Ông là một nam thần, thường được quy về dòng Long Vương, Bát Hải Đại Vương, thậm chí còn được đặt riêng ra thành một phủ – Phủ nhân thần, Phủ Trần Triều. Về hàng bậc, có lúc ông được đồng nhất với Vua Cha trong đối sánh với Thánh Mẫu, ngày giỗ và lễ hội kèm theo của ông cũng đồng nhất với ngày giỗ Cha “tháng Tám giỗ Cha” cùng với Bát Hải Đại Vương. Nơi thờ ông ở Kiếp Bạc, có hai ngọn núi xòe rộng ra ôm lấy thung lũng, trước mặt ngôi đền là núi Nam Tào và Bắc Đẩu. Như vậy, trong tâm thức dân gian, nghiễm nhiên ông được coi như là Ngọc Hoàng, một loại Vua Cha cao hơn, bên trên cả Thánh Mẫu. Tuy nhiên, không giống như Vua Cha Ngọc Hoàng hay Vua Cha Bát Hải – các vị chỉ ngự trong điện thần chứ không giáng đồng, các Thánh hàng Mẫu cũng chỉ giáng chứ không nhập đồng (hầu tráng mạn), còn Đức Thánh Trần và một số thuộc hạ của ông thì lại giáng, nhập đồng chuyên để trừ ma tà, cứu chữa con bệnh, tạo nên hẳn một dòng đồng – Thanh đồng, phân khác với hình thức hầu đồng của dòng đồng cốt thờ Mẫu. Trong thứ tự của giáng đồng của những người có căn Trần Triều thì thường sau khi Mẫu giáng, và trước các vị thánh hàng Quan. Đấy là chưa kể hình thức lên đồng để trừ tà thường diễn ra trong dịp lễ tiết của Đức Thánh Trần ở những nơi thờ tự chính của ông.
Một vấn đề đặt ra là trong môi trường và điều kiện nào một quý tộc và danh tướng như Trần Quốc Tuấn đã từng lập nên những danh tích của triều đại nhà Trần, sau đó lại trở thành ông Thánh của Đạo giáo, với quyền pháp của một đạo sĩ và thầy phù thủy chuyên trừ đuổi ma tà, chữa bệnh cho phụ nữ, và dần hội nhập vào dòng tôn thờ Thánh Mẫu Tứ Phủ. Theo ý kiến trao đổi riêng với giáo sư Trần Quốc Vượng lúc sinh thời, thì thời nhà Trần, bên cạnh đạo Phật, Đạo giáo cũng khá thịnh hành, nhiều người thuộc giới quý tộc, hoàng thân là những đạo sĩ, tín đồ đạo giáo, trong đó có cả Trần Hưng Đạo. Từ sau khi chiến thắng giặc Nguyên – Mông, được phong vương, ông quay trở về sống ở Kiếp Bạc, vui thú với cảnh sắc thiên nhiên, làm thuốc chữa bệnh cứu người. Huyền thoại về việc ông dùng ma thuật để trừ tà Phạm Nhan chỉ là lịch sử hóa, huyền thoại hóa một thực tế rằng ông là một thầy thuốc có tài chữa bệnh hậu sản, bệnh của phụ nữ. Vả lại, trong dân gian, việc chữa bệnh bằng thuốc luôn luôn đi liền với hành động có tính ma thuật. Bởi vậy, sau khi Trần Hưng Đạo qua đời, danh tiếng và uy tín của ông đã được huyền thoại hóa, khoác ra ngoài cái vỏ tín ngưỡng và lưu truyền mãi, cho tới tận ngày nay.
Còn việc ông trở thành vị Thánh trong điện thần Tứ Phủ, thậm chí còn đồng nhất ông với Vua Cha trong đối sánh với Thánh Mẫu, thì cũng không có gì khó hiểu. Với tư cách là một vị tướng, một đạo sĩ của Đạo giáo, vốn gốc dòng họ gắn với miền sông nước vùng hạ lưu, lại lập những chiến công thủy chiến vang dội, ông dễ được dân gian khoác thêm chiếc áo thần linh, quy về dòng thủy thần Long Vương, được thờ phụng cùng với Bát Hải Đại Vương, vị thần chuyên coi vùng sông nước và biển cả.
Cũng cần phải phân biệt giữa thờ phụng Đức Thánh Trần với tư cách là một anh hùng dân tộc, một đạo sĩ của dòng Đạo giáo với Đức Thánh Trần được coi như một Vua Cha trong tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ Phủ. Trong nhiều điện, đền thờ Mẫu Tứ Phủ có ban thờ Đức Thánh Trần, nhưng ngược lại, trong các đền thờ chính của ông ở Kiếp Bạc, Bảo Lộc, Cổ Trạch thì hầu như không có Mẫu và điện thờ Mẫu. Như vậy, rõ ràng việc tôn thờ Đức Thánh Trần với những đặc tính tiềm tàng của nó như đã trình bày trên, một phần đã được thu hút và hội nhập vào tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ Phủ, nhất là ở những giai đoạn muộn của nó. Điều đó cũng góp phần giải thích vì sao sự hội nhập này không diễn ra đều khắp mọi nơi. Chỉ xin đơn cử tại Phủ Dầy, nơi trung tâm của đạo Mẫu, thì trong điện thần phối tự, vai trò của Đức Thánh Trần và kể cả Vua Cha Bát Hải Đại Vương đều khá mờ nhạt. Trong khi đó, Lý Bôn với vai trò là Vua Cha, vị thủy thần, thì có tới hai đền, một ở Tiên Hương, một ở Vân Cát, đều gọi là Đền Vua nằm kề sát phủ trong quần thể các đền của Phủ Dầy. Tháng tám hàng năm là kỳ giỗ kỵ ở Đền Vua, giống như Vua Cha ở Đền Đồng Bằng và Kiếp Bạc, nơi thờ Vua Cha Cát Hải và Đức Thánh Trần. Gần đây, theo xu hướng chung, nhất là sau khi tượng Trần Hưng Đạo được dựng ở thành phố Nam Định, thì người ta lại đưa Đức Thánh Trần vào thế chỗ Vua Cha Lý Bôn ở các đền phủ này.
Như vậy, Đức Thánh Trần là một vị thần đa diện, cả về phương diện chính trị – xã hội với tư cách là một anh hùng dân tộc, biểu tượng cho sức mạnh chống ngoại xâm của dân tộc; cả về phương diện tâm linh, với tư cách là vị thần có sức mạnh trừ ma tà, trị bệnh cứu người.
Cùng với Đức Thánh Trần, con trai, hai vương cô và các vị tướng của ông cũng có thể giáng đồng, tuy những trường hợp như vậy rất hiếm hoi. Con trai của Trần Hưng Đạo là Trần Quốc Tảng thờ ở đền Cửa Ông (Quảng Ninh), tướng Phạm Ngũ Lão thờ ở đền Phù Ủng, Bắc Ninh. Đặc biệt là hai người con gái là Vương Cô Đệ Nhất và Vương Cô Đệ Nhị được nhập vào hàng Cô của đạo Tứ Phủ, luôn luôn hầu cận hai bên Thánh Cha.
Ở phần trên, chúng tôi có gắng hệ thống lại điện thần của Đạo Mẫu Tứ Phủ mang tính chung và ước lệ nhất. Tuy nhiên, với các địa phương thì trên cái khung chung đó, sự sai biệt mang sắc thái địa phương là một thực tế hiển nhiên. Nói chung, điện thần và phối tự trong các đền Mẫu ở Nam Bộ không có mấy sai biệt (ở đây chỉ nói đền thờ Mẫu Tứ Phủ), còn các đền thờ Mẫu khác như Bà Đen, Bà Chúa Xứ thì không thuộc hệ thống này, so với các đền thờ Mẫu ở Bắc Bộ. Có chăng trong điện thần ta thấy có thêm một số vị Thánh địa phương, như Lê Văn Duyệt, được coi là một vị Thánh hàng Quan, có vai trò trừ ma tà như Quan Tuần, Đức Thánh Trần ở ngoài Bắc. Bà Chúa Xứ cũng có lúc giáng đồng trong các đền thờ Mẫu Tứ Phủ, được coi như vị Thánh Mẫu hàng Chúa (Chầu).
Điện thần ở Điện Hòn Chén, trung tâm thờ Mẫu ở Huế cũng như một số ngôi đền khác, về cơ bản vẫn là thờ Mẫu Tứ Phủ, tuy nhiên sắc thái địa phương thì thể hiện rõ rệt hơn. Trước nhất nếu như trong điện thờ Tam vị Thánh Mẫu, Mẫu Thượng Thiên hay Mẫu Liễu ngồi chính giữa, trong tất cả các đền ở Huế thay bằng Thánh Mẫu Thiên Y A Na, một thánh Mẫu nguồn gốc Chăm (Mẹ xứ sở) đã bị Việt hóa. Hai bên tả và hữu của Mẫu Thiên Y A Na là Mẫu Thoải và Mẫu Thượng Ngàn. Có một số ít ngôi đền, trong đó có Hòn Chén thì có ban thờ Thánh Mẫu Liễu cùng với Quế Hoa và Quỳnh Hoa được thờ thấp hơn phía trước Tam vị Thánh Mẫu đã kể trên. Hàng các vị Thánh Bà (hàng Chầu) được gọi theo tên Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ: Đệ Nhất Kim tinh thần nữ, Đệ Nhị Mộc tinh thần nữ, Đệ Tam Thủy tinh thần nữ, Đệ Tứ Hỏa tinh thần nữ, Đệ Ngũ Thổ tinh thần nữ. Trong hàng thất thánh (7 vị Thánh) tương đương như hàng Quan thì ở Huế có thờ Vua Đồng Khánh, nguyên là tín đồ Đạo và vị vua đầu tiên thừa nhận tính chính thống của Đạo Mẫu, người bỏ tiền ra để xây dựng và tôn tạo các điện Mẫu ở Huế. Trong khá nhiều ngôi đền, điện, bên cạnh các tượng Ngọc Hoàng như các đền ngoài Bắc, thì thường có thêm tượng Quan Thế Âm, ban thờ Quan Thánh, thậm chí có nơi còn thờ Bản Thổ và Thành Hoàng.
Đặc biệt, trong quan niệm (Tứ Phủ) của Đạo Mẫu ở Huế có nét riêng với miền Bắc. Ngoài Thiên Phủ, Thoải Phủ và Nhạc Phủ, ở đây người ta quan niệm còn có Phủ Trung Thiên. Cõi Trung Thiên (miếu không trung) là một khoảng không bao phủ quanh cuộc sống của con người. Đó là cõi ngự trị của các chư vị có nguồn gốc nhân thần, do có công lao đối với dân với nước. Đứng đầu cõi Trung Thiên là Trung Thiên Thánh Mẫu (Mẫu Trung Thiên), Tây Cung Vương Mẫu Bổn Mạng Chúa Tiên, dưới là các chư vị Thánh Thần, âm binh bộ hạ. Tất cả cùng nắm giữ bổn mạng, quy định thọ yểu của con người. Ngược lại, ở Huế, vai trò của Địa Tiên Thánh Mẫu gần như mờ nhạt.
Màu biểu tượng của Tứ Phủ cũng có đôi chút khác biệt. Nếu như ở miền Bắc, màu đỏ tượng trưng cho Mẫu Thượng Thiên thì ở Huế lại là màu vàng, còn màu đỏ lại dành cho Mẫu Trung Thiên.
Thực ra sự khác biệt trên được trình bày trong công trình “Tín ngưỡng thờ Mẫu ở miền Trung Việt Nam” do Nguyễn Hữu Thống chủ biên, cũng không hoàn toàn rạch ròi như vậy. Ở miền Bắc, với sự xuất hiện của Thánh Mẫu Liễu Hạnh thì sự phân biệt giữa Thiên Phủ và Địa Phủ cũng không thực rõ ràng. Thánh Mẫu Liễu Hạnh có lúc hóa thân là Thượng Thiên Thánh Mẫu (mặc áo đỏ) và có lúc lại là Địa Tiên Thánh Mẫu (mặc áo vàng). Địa Phủ không phải là ở dưới mặt đất, là cõi Âm phủ, mà là cõi trần gian ở trên mặt đất thuộc đời sống của con người. Trong khá nhiều đền phủ Đạo Mẫu ở miền Bắc có bàn thờ Bán Thiên, nằm trước cửa đền phủ ở ngoài trời, thờ Cửu Thiên Huyền Nữ và một số nữ thần khác, mà theo quan niệm dân gian, nó trực tiếp liên quan tới đời sống trần thế của con người.
Về Mẫu Trung Thiên và Mẫu Bán Thiên, có thể lý giải từ nhiều khía cạnh. Có người cho rằng Mẫu Trung Thiên và Mẫu Bán Thiên chỉ là một biến dạng của Mẫu Thượng Thiên, một bên là trông coi miền trời (Thượng Thiên) và một bên là trông coi miền đất (Trung Thiên hay Bán Thiên). Cũng có người lý giải theo thuyết Ngũ Phương, cho rằng Trung Thiên là trung tâm, nên biểu tượng của nó là màu vàng. Tuy nhiên, đây là vấn đề cần tìm hiểu thêm.
Như vậy, điện thần thờ Mẫu ở Huế về cơ bản vẫn là Mẫu Tứ Phủ, nhưng vị Thánh Mẫu cao nhất, Thánh Mẫu Thiên Y A Na thì lại là kết quả của sự giao lưu văn hóa Việt – Chăm. Thực ra, ở người Việt, người Chăm, Khmer và nhiều dân tộc khác ở Việt Nam và Đông Á đều có nét văn hóa chung là tôn thờ nữ thần, tôn vinh vị thần cội nguồn của đất nước và dân tộc là Nữ thần, gọi là Thánh Mẫu – Thần Mẹ. Nếu người Việt có Tam Tòa Thánh Mẫu, Mẫu Liễu được tôn vinh là Mẫu nghi thiên hạ, thì người Chăm có vị thần xứ ở Pô Inư Nưgar, Thiên Y A Na. Khi vượt sông Gianh vào đất trung và nam Trung Bộ, người Việt đã tiếp thu và Việt hóa nhiều yếu tố văn hóa.
Hỏa Chăm, trong đó có vị Nữ thần xứ sở, Bà Mẹ xứ sở của Chăm thành Mẫu của người Việt. Tục thờ Mẫu ở Hòn Chén và Tháp Bà (Nha Trang) chính là thể hiện quá trình hỗn dung và giao lưu văn hóa đó.
Ở miền Bắc cũng như trong Nam, bên cạnh các đền thờ Mẫu thuộc hệ thống Mẫu Tam phủ, Tứ phủ mà điện thần của nó chúng tôi đã giới thiệu ở trên, thì còn tồn tại một hình thức tín ngưỡng thờ Mẫu nằm ngoài hệ thống Mẫu Tam Phủ, Tứ Phủ (Tam Tòa Thánh Mẫu), được gọi với những tên như Bà Chúa (Bà Chúa Xứ), Bà Đen hay Linh Sơn Thánh Mẫu, thờ Bà (Tháp Bà ở Nha Trang), Bà Chúa Tiên, Bà Chúa Ngọc, Bà Chúa Động, Bà Thủy, Bà Hỏa, Bà Thiên Hậu, Tống Hậu, các đền thờ Vương Mẫu (Mẹ Thánh Gióng), Quốc Mẫu (đền thờ Mẹ Âu Cơ) và các Thánh Mẫu khác (Ỷ Lan Thánh Mẫu, Thiên Hậu Thánh Mẫu). Tuy là vài những tên gọi khác nhau nhưng đều có nguồn cội từ tục thờ các Nữ thần. Tuy nhiên, không phải nữ thần nào cũng thành Bà, thành Chúa và đặc biệt là thành Mẫu. Sự phân biệt này chúng tôi đã có dịp trình bày ở chương một.
Về hệ thống điện thần và thần tích các đền thờ Mẫu (thờ Chúa, thờ Bà không thuộc hệ thống Mẫu Tứ Phủ), chúng tôi đều có trình bày tương đối tỉ mỉ ở các phần Tháp Bà ở Nha Trang, thờ Bà Chúa Xứ ở núi Sam, thờ Bà Đen ở Núi Bà Đen (Linh Sơn) ở Nam Bộ. Chúng tôi cũng đã tiến hành khảo sát một số đền thờ Mẫu cùng loại trên ở miền Bắc như Đền thờ Vương Mẫu (Mẹ Thánh Gióng) ở Phù Đổng, đền thờ Tống Hậu Quốc Mẫu ở Nam Định (Hải Hậu).
Trên cơ sở những khảo sát như vậy, bước đầu có nhận xét như sau:
- Việc thờ Mẫu kể trên nảy sinh và phát triển trên cơ sở thờ Nữ thần, nó thuộc loại hình tín ngưỡng thờ thần mà cổ người gọi là Thần Đạo, một đạo mang bản sắc Việt Nam rõ rệt nhất.
- Tuy không hoàn toàn thuộc lĩnh vực của Đạo Mẫu Tam Phủ, Tứ Phủ – một biến thể của Đạo giáo Việt Nam, nhưng giữa tục thờ Mẫu này và đạo Mẫu Tam Phủ, Tứ Phủ có những nền tảng chung (đều tôn thờ Nữ thần và thờ Mẫu), có sự thâm nhập và ảnh hưởng qua lại, trong đó nổi bật là tục thờ Mẫu – Nữ thần tiếp thu ảnh hưởng Mẫu Tam Phủ, Tứ Phủ, thể hiện qua điện thờ, nghi lễ thờ cúng lên đồng và lễ hội.
- Sự giao lưu và hội nhập khá rõ nét giữa thờ Mẫu – Nữ thần với Phật giáo dân gian, với Đạo giáo, các hình thức tín ngưỡng dân gian, kể cả một số tôn giáo khác.
Từ việc xem xét hệ thống điện thần đạo Mẫu và các thần tích của nó, có thể rút ra một số nhận xét sau:
-
Hệ thống thần linh Tam phủ, Tứ phủ gồm các thiên thần và nhân thần, là các vị thần linh đã từng là người trần thế, có nguồn gốc Tiên, Thánh. Tuy nhiên, xu hướng “trần gian hóa” và “lịch sử hóa” là xu hướng chính trong quá trình thêu dệt nên thần tích các vị Thánh này. Vị Thánh Mẫu Liễu Hạnh ra đời chậm trễ nhất trong số các Thánh Mẫu, nhưng thần tích của Bà cũng được người đời “trần thế hóa”, “địa phương hóa” và “lịch sử hóa” một cách khá trọn vẹn, để từ đó Bà bước lên ngôi thứ cao nhất trong điện thần Tam phủ, Tứ phủ. Còn biết bao vị thần khác đều có nguồn gốc xuất thân, lý lịch “nhập thế” với bao công lao, kỳ tích, gắn liền với tích sử giữ nước và dựng nước của dân tộc, tạo cho nó trở thành một biểu tượng của lòng yêu nước mang đầy tính tâm linh. Cũng chính vì thế họ đều là các phúc thần, có thể xua đuổi các tà ma, mang lại tài, lộc, sức khỏe cho con người.
-
Các thần linh Tứ Phủ còn được phân thành một bên là các nữ thần và bên kia là nam thần; tuy thứ bậc chính của mỗi vị Thánh trong điện thần phụ thuộc vào việc họ thuộc hàng nào từ trên xuống dưới, như Thánh Mẫu – Vua Cha, các Quan, các Chầu, ông Hoàng, các Cô, Cậu hay thuộc phủ nào mà họ cai quản: Thiên phủ, Thủy phủ, Nhạc phủ hay Địa phủ. Về phương diện hữu thức là như vậy, nhưng nếu chúng ta đi sâu vào tầng vô thức thì việc phân chia trên lại bao hàm một ý nghĩa sâu xa nào đó.
Tuy là đạo thờ Mẫu, và Mẫu là vị thần có quyền năng sáng tạo tối thượng, nhưng trong điện thần, các vị thần vẫn chia thành dòng Cha và dòng Mẹ. Thánh Mẫu với các hóa thân trực tiếp là các Chầu và những người giúp việc là các Cô. Còn bên kia là Vua Cha và thuộc dòng Vua Cha là các Quan, các ông Hoàng và Cậu. Tất nhiên, sau này trong quan niệm dân gian, tuy Mẫu là một, là “nhất thể” nhưng lại hóa thân thành “tam vị” Thiên, Địa, Thủy; hay Vua Cha cũng chỉ có một, sau lại chia thành Vua Cha Thủy Phủ, Vua Cha Nhạc Phủ, Vua Cha Địa Phủ, Vua Cha Thiên Phủ. Nhưng cuối cùng, thủy tổ của Thánh Mẫu vẫn là dòng Tiên, còn thủy tổ của Vua Cha vẫn là dòng Long Vương – dòng Rồng, mà cái đó người Việt đã khái quát trong huyền thoại suy nguyên “Lạc Long Quân và Âu Cơ”. Cũng bởi lẽ đó, hội thờ Thánh Mẫu tức giỗ Mẹ vào tháng ba, còn ngày hội Vua Cha, tức giỗ Cha vào tháng tám.