LINH SƠN THÁNH MẪU – BÀ ĐEN
Hai trung tâm thờ Mẫu lớn nhất của vùng Nam Bộ. Núi Bà Đen nằm cách Sài Gòn khoảng 100 km về phía Tây Bắc, cách thị xã Tây Ninh 11 km về phía đông bắc. Thực ra, núi Bà Đen là một quần thể gồm ba ngọn núi hợp lại, đó là ngọn núi Bà (cao 986 m), núi Phụng (cao 372 m) và núi Heo (cao 335 m), tổng diện tích cả vùng khoảng 24 km². Trong một diện tích núi Bà như vậy, rải rác tọa lạc các di tích, như chùa Hạ, chùa Trung, chùa Thượng, chùa Hang và một số hang động được các phật tử sửa chữa thành nơi thờ tự, như động Thanh Long, động Ông Hổ, động Ba Cô, động Thiên Thai, động Ông Tà… Trong các di tích kể trên thì chùa Thượng và động thờ Bà là quy mô hơn cả, thu hút nhiều khách hành hương tham quan.
Trong “Gia Định thành thông chí” của Trịnh Hoài Đức, viết vào đầu thế kỷ XIX, mô tả ngọn núi này: “Giữa đất bằng bỗng nổi lên ngọn núi Bà Đen (Bà Đinh)”. Ngày đẹp trời, từ Sài Gòn có thể thấy ngọn núi này mờ mờ hiện ra trong mây mù, tương truyền đây là ngọn núi thiêng, có chuông vàng ẩn hiện trong hồ, đêm trăng có thuyền rồng bơi lượn múa hát du dương, có rùa vàng lớn lúc ẩn lúc hiện. Núi Bà Đen được coi là ngọn núi thiêng, ngọn chủ sơn trấn thành Gia Định (tức Sài Gòn), giống như núi Tản Viên (Tản Viên Sơn) với Thăng Long hay núi Ngự Bình với cố đô Huế.
Nhân đây cũng nói thêm rằng, cũng theo Trịnh Hoài Đức trong “Gia Định thành thông chí”, các ngọn núi cao ở xung quanh Gia Định xưa đều mang tên các nữ thần, như Núi Sam (Núi Bà Chúa Xứ), Bà Đen (Tây Ninh), núi Bà Rá (Vĩnh Long), núi Bà Rịa (Bà Địa Sơn), Mẫu Sơn (núi Bà Kéc hay Bà Khịt)… Âu đây cũng là cách người ta nhân thần hóa, nữ tính hóa việc tôn thờ tự nhiên (thần núi).
Lên miếu Linh Sơn Thánh Mẫu và chùa Linh Sơn Tiên Thạch Tự có thể đi bằng hai cách, leo bộ từ chân núi lên đến miếu và chùa mất khoảng trên dưới 3 giờ, nhưng mấy năm gần đây, người ta có thể đi bằng cáp treo và máng trượt.
Tương truyền, bên trên chùa Hang có ngôi Chùa Đảnh, có những biến âm là “chùa Đỉnh”, “chùa Động”… (?), trong chiến tranh đã bị phá nát, nay chưa dựng lại. Phía dưới có động Ba Cô, nơi thờ đặt trong một động núi hẹp, ra vào phải lách mình qua khe đá. Trong động, có đề chủ Chúa Tiên nương nương, Tam vị Thánh Cô cùng với tượng Bà Chúa Tiên. Tương truyền, có ba cô gái quê ở Thủ Thừa, Long An về tu và mất ở đây.
Phía dưới động Ba Cô, có một cơ sở của Phật giáo mới xây rất đẹp, có tên là “Tịnh thất”, nơi ở và tu hành của các tăng ni. Đây cũng là nơi ngay cạnh Chùa Hang, còn gọi là Long Châu Tự hay Động Ông Chàm. Khác với Điện Bà, đây là nơi thờ hỗn hợp Phật và Mẫu (Đạo). Chùa Hang, vốn là cái hang thấp, khá tối, diện tích khoảng 20 m², có ban thờ mẫu ở phía trong, một bên là tượng Linh Sơn Bà Đen (mặt đen) và Bà Chúa Xứ (mặt trắng), phía trước từ trong ra có tượng thờ Địa Tạng Bồ Tát và Ngọc Hoàng, chính giữa phía dưới một chút là thờ tượng Tam Thế Phật. Lùi dần ra phía ngoài hang là tượng Quan Âm, Thích Ca giáng sinh, Thập điện, ngoài cùng là tượng Hộ pháp. Phía trái cửa Chùa Hang là tượng Quan Âm Bồ Tát và Diêu Trì Kim Mẫu.
Trung tâm điểm của di tích núi Bà Đen chính là Điện Bà và Linh Sơn Tiên Thạch Tự (có tài liệu lại ghi là Linh Sơn Tiên Thánh Tự). Điện Bà là điện dựng lên từ một mái hang đá, phần ngoài được xây nối thêm cho rộng rãi. Từ ngoài vào trong ta thấy các lớp như sau:
- Tượng mới dựng ở sân trước điện là Linh Sơn Thánh Mẫu, tượng toàn thân, ngoài khoác áo trắng, tay phải giơ lên bắt quyết, tay trái cầm lọ nước cam lồ, rất giống tư thế Phật Bà Quan Âm.
Ngay trước cửa vào Điện Bà là tượng Diêu Trì Địa Mẫu, tượng toàn thân, mặc áo xanh lục. Theo người ở đây kể lại thì tượng bà Diêu Trì Địa Mẫu này mới được dựng, vốn là một vị thần trong Đạo giáo Trung Hoa, đã thâm nhập vào điện thần của đạo Cao Đài, đạo Phật và gần đây còn thấy cả ở điện thần đạo Mẫu, kể cả Mẫu Tam Phủ, Tứ Phủ ở Nam Bộ.
Vào trong nội thất Điện Bà, trên ban thờ chính có bày tượng của ba vị, chính giữa là Linh Sơn Thánh Mẫu, mặc áo đỏ, mặt đen, còn gọi là Bà Mặt Đen (Bà Đen), bên phải là Bà Chúa Xứ, mặc áo xanh da trời, còn được gọi là Bà Mặt Trắng. Bà phía tay trái mặc áo xanh nõn chuối, có thể là Bà Rá, cũng một dạng với Bà Đen, hoặc là Bà Ngũ Hành (?), thường phối thờ trong các miếu điện thờ Mẫu ở Nam Bộ.
Hai cánh trái và phải là ban thờ Cậu và Cô, theo một mô thức là Cô và Cậu luôn đi liền với Bà Chúa Xứ hoặc là mô thức Cô, Cậu trong hệ thống Mẫu Tam Phủ, Tứ Phủ.
Hai bên rìa tường là các ban thờ Tứ Vị Sơn Thần: Tây phương Sơn thần, Đông phương Sơn thần, Bắc phương Sơn thần và Nam phương Sơn thần.
Ngoài ra, hai bên cánh phía trước của Điện Bà là hai ban thờ Ông Địa (phía trái) và một vị nữa phía bên phải, tượng nam thần, râu dài trắng muốt, tay cầm gậy, mà tôi chưa hỏi được danh thần.
Đây là nơi thờ chính Linh Sơn Thánh Mẫu Bà Đen. Trong phối thờ thuần túy thờ Mẫu, không pha chút Phật giáo như các nơi khác, người dân đến lễ rất đông, phần nhiều là phụ nữ. Khi chúng tôi có mặt tại đây, năm 2004, nhiều phụ nữ đang xin âm dương, có người đã nhập đồng, kêu thét rồi ngã lăn ra sàn nhà bất tỉnh.
Nằm giữa Điện Bà và Chùa ngoài là hai miếu Ông Tà, một miếu thờ cái Linga nguyên thủy, hai bên có hai con ngựa, dân ở đây giải thích là ngựa của Cô, Cậu theo hầu Bà. Còn một miếu cũng có Linga như miếu kia, nhưng không có hai con ngựa, mà chỉ có hai bát hương, nổi là thờ Cô và Cậu. Người dân ở đây giải thích, Ông Tà là vị thần thổ địa, ai bị bệnh đến vái cục đá thì khỏi, cũng có thể người ta đến cầu có con.
Nếu như Chùa Hang là nơi thờ hỗn hợp Phật và Mẫu, còn Điện Bà (thực chất cũng là một nơi thờ trong hang) chỉ thờ thuần Mẫu, thì chùa phía ngoài cũng là Linh Sơn Thạch Tự (hay Linh Sơn Tiên Thánh Tự), nơi thuần túy thờ Phật, mới xây dựng hay sửa sang, nên còn rất mới. Điện thờ bày ở hai tầng lầu, với Đức Phật Thích Ca, Ngọc Hoàng, Đại Thế Chí Bồ Tát, Quan Thế Âm Bồ Tát, Thập Điện Diêm Vương, Tiêu Diện Đại Sỹ, Vệ Đà Hộ pháp, Thập Bát La Hán… Phía trước sân chùa là tượng Phật Bà Quan Âm như ta vẫn thấy ở nhiều ngôi chùa Nam Bộ và gần đây đã du nhập ra các ngôi chùa miền Bắc.
Lùi xuống phía chân núi, có chùa Linh Sơn Phước Trung Tự, nơi thờ Phật, Bồ Tát, phối thờ Quan Công, Thiên Hậu, các nữ thần khác.
Theo ghi chép của Trịnh Hoài Đức trong Gia Định Thành thông chí vào đầu thế kỷ XIX thì trên núi Bà Đen có chùa Linh Sơn (hay Vân Sơn), tức là tiền thân của Linh Sơn Tiên Thạch Tự ngày nay, mà không nhắc đến Điện Bà. Một tài liệu khác cho rằng, Điện Bà xây dựng muộn hơn, từ năm 1872, tức là cuối thế kỷ XIX, từ đó đến nay người ta xây dựng và thờ tự hỗn hợp nhiều thứ tôn giáo tín ngưỡng khác nhau. Linh Sơn Thánh Mẫu Bà Đen còn được sắc phong vào năm Bảo Đại thứ 10 (1935) với mỹ hiệu “Dục bảo trung hưng linh phù chi thần”, từ đây Bà được liệt vào hàng các công thần và các thần Thành hoàng thờ ở đình.
Hiện tượng thờ phụng hỗn hợp giữa các hình thức tín ngưỡng tôn giáo là một trong những đặc điểm của Việt Nam, đặc biệt là với Nam Bộ. Kể cả thờ phụng ở đình, nơi mà theo quan niệm xưa nay, ít nhiều đượm chất Nho giáo, thì với ngôi đình Nam Bộ việc thờ hỗn hợp các vị thần cũng là hiện tượng phổ biến. Thực ra, giữa đạo Phật và đạo thờ Mẫu ở Việt Nam có sự hòa nhập vào nhau cũng đã khá lâu rồi, nhất là giữa hai tôn giáo này, Mẫu và Thánh là cái gạch nối nữ tính cơ bản, một bên là Phật Bà Quan Âm, còn bên kia là Thánh Mẫu.
Ngoài việc hành hương cúng lễ theo lịch tiết của đạo Phật, thì riêng đạo Mẫu cũng diễn ra các lễ hội sôi động trong năm. Ngay sau lễ Thượng nguyên rằm tháng Giêng, mở đầu Hội Xuân núi Điện Bà suốt trong 3 tháng xuân, nhưng cao điểm là từ 15 đến 18 tháng Giêng, dịp mà theo tâm thức dân gian “Cúng lễ quanh năm không bằng rằm tháng Giêng”. Về phương diện thời gian và tính chất, lễ hội này có nét giống với hội du xuân Chùa Hương ở Xứ Bắc, mở đầu vào ngày mở cửa rừng mùng sáu tháng Giêng và kéo dài hết mùa xuân.
Lễ vía Bà chính thức tổ chức hàng năm nhằm ngày 5 và 6 tháng 5 âm lịch, gần trùng với tiết Đoan ngọ, dịp “giết sâu bọ”, trừ bệnh tật và cũng là dịp lễ thí thực nhà Phật. Phải chăng ở đây, do sự hỗn hợp giữa thờ Phật và Mẫu, nên việc lễ vía Bà Đen không nhằm vào dịp tháng 3 như thông lệ, mà lại vào tháng 5.
Lễ vía Bà diễn ra với các nghi thức sau:
- Đêm mùng 4 rạng ngày 5 tháng 5 là lễ tắm Bà, thực hành như là một lễ mật, rất ít người được tham dự, giống như lễ tắm Bà trong các đền miếu thờ Bà Chúa Xứ, Bà Thiên Y Thánh Mẫu.
- Sáng sớm mùng 5, lễ khai kinh và tụng kinh.
- Sáng mùng 5, lễ tế với việc dâng trình thập cúng, tức lễ cúng với 10 loại lễ vật: Hoa, đăng, hương, trà, quả, thực, bình, thủy xoàn, châu báu, một nghi thức có phần trộn lẫn giữa Đạo và Phật.
- Tối mùng 5 múa hát bóng rỗi, như múa dâng mâm vàng, bạc, dâng bông (hoa), hát Chặp Địa Nàng.
- Mùng 6, tiếp tục các nghi thức Phật giáo, cúng ngọ và thí thực cô hồn.
Xưa kia, việc hát bộ, hát chầu mãi tới tối mùng 8 mới kết thúc, những hình thức diễn xướng này thường thấy trong lễ kỳ yên ở các đình làng ở Nam Bộ.
Một câu hỏi được đặt ra là nguồn gốc và quá trình hình thành linh tượng Linh Sơn Thánh Mẫu Bà Đen hay đơn giản là Bà Đen ra sao?
Khác với Bà Chúa Xứ ở Núi Sam và Thiên Y A Na ở Tháp Bà Nha Trang khi đoán định nguyên ủy của Bà chúng ta đều có căn cứ vào cốt tượng mang tính Bàlamôn giáo, còn Bà Đen ở núi Linh Sơn thì lại không tìm thấy những di vết của tục thờ Shiva qua di vật linga nguyên thủy. Để bù vào chỗ thiếu vắng ấy trong cuộc truy tìm nguồn gốc của Thần, chúng ta lại có được cái tên Bà Đen và một số truyền thuyết về Bà.
Vấn đề mấu chốt nhất của Linh Sơn Thánh Mẫu là cái tên Bà Đen. Sắc đen thể hiện trên sắc da mặt của linh tượng nữ thần bày trên chính điện thờ Bà Đen ở núi Linh Sơn, khác với Bà Chúa Xứ, sắc da mặt trắng, gọi là Bà Trắng. Danh thần đen/trắng, Bà Đen/Bà Trắng không chỉ khuôn vào mấy linh tượng ở Linh Sơn, mà vấn đề rộng hơn nhiều, liên quan tới người Chăm và Khơme, và xa hơn với tôn giáo Ấn Độ.
Như chúng ta đều biết, Pô Inư Nưgar của người Chăm chính là sự kết hợp giữa yếu tố thờ nữ thần bản địa với việc thờ Uma, trong đó Uma chính là Sakti (tính lực) của Shiva. Cách nói dân gian, Uma chính là âm tính, là vợ của Shiva. Người Chăm cũng gọi Pô Inư Nưgar là Muk Jukt, tức Bà Đen.
Trong văn hóa Khơme cũng có quan niệm về Bà Đen – Neang Khmau và Bà Trắng – Mé Sar. Theo Lê Hương, trong bức tranh thờ Neak Tà của người Khơme ở ao Bà Om (xã Nguyệt Hóa, Châu Thành, Trà Vinh), thì Bà Đen và Bà Trắng đứng hai bên Neak Tà, tay cầm cây gậy đầu rắn, tay kia cầm quạt, là hộ thần của Neak Tà. Có thể, từ quan niệm Bà Đen, Bà Trắng này của người Khơme, mà đã được Việt hóa trong việc thờ Bà Mặt Đen và Bà Mặt Trắng ở điện thờ Linh Sơn Thánh Mẫu. Chỉ có khác là ở điện thờ này, Bà Mặt Đen là linh tượng của Linh Sơn Thánh Mẫu, còn Bà Mặt Trắng lại là Bà Chúa Xứ mà thôi.
Theo chúng tôi, tên gọi Bà Đen (Muk Juk) trong văn hóa Chăm và tên gọi Bà Đen (Neang Khmau) trong văn hóa Khơme đều có nguồn gốc từ văn hóa Bàlamôn giáo của Ấn Độ. Bàlamôn giáo từ Ấn Độ ảnh hưởng vào Đông Nam Á, chủ yếu là Bàlamôn giáo Shiva, mà biểu tượng là linga mặt người, trong đó Sakti (tính lực) của Shiva là Uma (thể hiện rõ ở người Chăm) và Kali (thể hiện rõ ở người Khơme). Nói cách khác, Shiva có nhiều Sakti, thể hiện nhiều khía cạnh khác nhau của chủ thần Shiva. Cũng có ý kiến cho rằng, Kali (Bà Đen) ở người Khơme gắn với Visnu hơn là với Shiva.
Đến đây chúng ta có thể rút ra nhận xét, dù gắn Bà Đen với Sakti của Shiva hay Visnu, thì một điều không thể phủ nhận được là cái gọi là Bà Đen trong văn hóa Chăm (Uma) hay trong văn hóa Khơme (Kali) đều gắn liền với việc kết hợp giữa ảnh hưởng ngoại sinh của văn hóa Bàlamôn giáo Ấn Độ và các yếu tố nội sinh thờ nữ thần bản địa.
Gắn liền với yếu tố “đen” trong cái gọi là Bà Đen trong văn hóa Chăm và Khơme, chúng ta còn có một mắt xích nữa, đó là đền thờ Bà Rá (một tên gọi khác của Bà Đen ở Phước Long, Bình Phước). Trên điện thần của ngôi đền thờ Bà Rá, thần chủ ngôi đền này, còn phối thờ Linh Sơn Thánh Mẫu Bà Đen. Theo quan niệm của người dân ở đây, Bà Rá và Linh Sơn Thánh Mẫu Bà Đen ở Tây Ninh chính là hai chị em. Như vậy, đến đây chúng ta có chuỗi các vị nữ thần mang tên “đen” suốt từ đông sang tây, đó là Pô Inư Nưgar (Muk Juk – Bà Đen) của Chăm – Bà Rá có thể là Neang Khmau của Khơme – Linh Sơn Thánh Mẫu Bà Đen (Kali, Neang Khmau) của Khơme.
Điều này dễ hiểu khi chúng ta xem xét địa bàn Phước Long và Tây Ninh, nơi đây đều có sự hiện diện của người Khơme và người Chăm đã sống chung với cư dân Stiêng vốn là cư dân bản địa ở vùng giáp ranh biên giới này. Sau này, từ cuối thế kỷ XVII, người Việt di cư từ miền Trung, mang theo tâm thức thờ Thánh Mẫu Thiên Y A Na, một sản phẩm hỗn dung Việt – Chăm vào vùng đất mới.
Cũng phải nói thêm rằng, nếu chỉ có nguyên chất Khơme và Chăm, và tất nhiên đằng sau nó là cái gốc gác xa xưa từ Ấn Độ giáo, thì vẫn chưa thể tạo nên Bà Đen – Linh Sơn Thánh Mẫu, mà còn cần sự hỗn dung, chắt lọc, tái tạo của lớp văn hóa Việt.
Theo những tư liệu có được thì những lớp cư dân Việt từ Trung Bộ vào Nam Bộ khoảng thế kỷ XVI. Với các nhóm cư dân này, họ vẫn mang theo tâm thức thờ Nữ thần và Mẫu thần từ quê hương xa xưa tận Bắc Bộ, nhưng đặc biệt, từ sau thời nhà Lý, khi người Việt nam tiến vào Trung Bộ, cái tâm thức thờ Mẫu ấy đã ít nhất một lần pha trộn, hỗn dung với tín ngưỡng thờ Mẫu của người Chăm với dạng thức thờ bà Mẹ xứ sở Pô Inư Nưgar, mà sự hỗn dung và tiếp biến ấy mạnh mẽ đến mức, từ đó tạo nên linh tượng Thiên Y A Na.
Na – Bà Chúa Ngọc mang chất Việt-Chăm. Mà như phần trên chúng ta đã phân tích, điều đó mang nhiều nét tương đồng cả về độ sâu và độ rộng của tín ngưỡng thờ nữ thần, mẫu thần của cư dân bản địa ở Nam Bộ.
Trên cái nền tương đồng như vậy, người Việt ở vùng Đông Nam Bộ, đặc biệt là ở vùng Tây Ninh đã một lần nữa nhào nặn biểu tượng Bà Đen mà gốc gác từ nền văn hóa Chăm, Khơme thành Linh Sơn Thánh Mẫu mang đậm chất Việt hơn. Đó là lớp văn hóa mang đậm tính Phật giáo và Nho giáo qua câu chuyện truyền thuyết về Nàng Đênh và Lý Thị Thiên Hương.
Một chi tiết chúng ta cần lưu ý là tính chất Phật giáo của Linh Sơn là khá đậm và khá cổ xưa. Trịnh Hoài Đức trong “Gia Định thành thông chí” khi nói về ngọn núi thiêng này, ngoài mô tả hình dạng, độ cao đột ngột của nó giữa vùng đồng bằng Đông Nam Bộ, thì ông còn ghi nhận trên núi đó có chùa Vân Sơn, mà chưa nói gì đến điện thờ Bà Đen. Điều đó cho chúng ta thấy, việc thờ Bà Đen hình thành muộn hơn ở giai đoạn sau này.
Truyền thuyết Nàng Đênh kể rằng, nàng là con một ông quan tri huyện ở vùng Trảng Bàng, nàng có nước da ngăm đen. Từ nhỏ, nàng đã có lòng mộ đạo, thường đi lên chùa lễ Phật. Một lần, Nàng Đênh lên núi, giữa đường nàng bị cọp vồ. Linh hồn của nàng báo mộng cho nhà sư tu ở chùa Linh Sơn (Vân Sơn), nên nhà sư đã đi tìm xác nàng, làm lễ mai táng và lập điện thờ phụng ở Điện Bà. Trong truyền thuyết này, ngoài cái tên Nàng Đênh, mà truy gốc ra có thể gắn với Nàng Đinh, Bà Đen – Bà Đinh, cùng với nước da đen của nàng, gợi cho ta chất nhân chủng Khơme, thì ở đây thể hiện sự kết hợp giữa tín ngưỡng dân gian thờ nữ thần và Phật giáo, một sự kết hợp khá chặt chẽ mà điện thờ trong chùa Hang trên Linh Sơn, cũng như sự kết hợp hài hòa giữa thờ Mẫu thần và thờ Phật trên toàn bộ quần thể di tích Linh Sơn Bà Đen đã nói lên điều đó. Đây cũng là một mô típ kết hợp mang tính kinh điển, mà chúng ta có thể thấy ở huyền thoại Bà Chúa Ba ở động Hương Tích, cũng như truyền thuyết công chúa Liễu Hạnh trong trận Sòng Sơn Đại Chiến.
Một lớp Việt hóa Bà Đen nữa, mà lớp này có lẽ xuất hiện muộn hơn, chủ yếu từ thời Nhà Nguyễn, thể hiện qua truyền thuyết về Bà Đen – Lý Thị Thiên Hương. Truyện kể rằng: Ngày xưa trên ngọn Núi Một (Bà Đen) có một tượng Phật rất linh thiêng. Dân chúng rủ nhau chặt cây, phát dọn đường lên núi cúng Phật. Vì đường có nhiều cọp beo, nên người đi lễ thường phải đi theo từng đoàn. Có một cô gái tên là Lý Thị Thiên Hương, gốc người Trảng Bàng, văn hay võ giỏi, cũng thường lên chùa lễ Phật. Trong làng có một chàng trai tên là Lê Sĩ Triệt đem lòng yêu thương cô.
Vì cô có nhan sắc, một ông quan địa phương mưu mô bắt cô về làm thiếp. Y giao cho một thầy võ thực hiện dã tâm ấy. Lúc cô đang bị thầy võ khống chế, thì Lê Sĩ Triệt xông ra cứu cô thoát nạn. Về nhà, cô thuật lại sự tình cho cha mẹ, khiến cha mẹ thuận tình gả cô cho chàng trai đã cứu mạng. Thời gian đó, Võ Tánh đang chiêu binh giúp cho Nguyễn Ánh đánh lại nhà Tây Sơn, Lê Sĩ Triệt ra tòng quân. Một hôm, cô lên núi cầu Thần Phật cho chồng chưa cưới trở về thì bị bọn cướp vây bắt. Cô chạy thoát vào rừng trốn, rồi mất tích luôn.
Sang đời Minh Mạng, có một vị hòa thượng chủ trì ngôi chùa trên núi Linh Sơn. Một hôm đang niệm Phật, hòa thượng bỗng thấy một cô gái xinh đẹp hiện ra trước mắt, nói: “Ta đây họ Lý, khi 18 tuổi bị rượt bắt, nên ngã xuống vực chết, nay đắc quả, xin hòa thượng xuống triền núi phía đông nam tìm thi hài của ta và chôn cất giùm.” Vị hòa thượng y lời đi tìm xác cô để đem về chôn cất.
Câu chuyện đồn đại đã tới Thượng Quốc Công Lê Văn Duyệt, ông bèn tìm hiểu hư thực và đã dâng sớ về triều về sự kiện trên. Gia Long đã ra sắc phong cho cô gái họ Lý là “Linh Sơn Thánh Mẫu.” Hiện tại, nơi điện Bà Đen còn lưu giữ sắc phong vào năm Bảo Đại thứ 10 (1935) với mỹ hiệu “Dực Báo trung hưng linh phủ chi thần”, thuộc hàng các thần linh chính thống như các công thần và thành hoàng làng. Đến năm Tự Đức thứ 3 (1850), ngọn núi này có tên gọi chính thức là núi Bà Đen. Như vậy, cũng giống như các vị Mẫu thần khác, như Thánh Mẫu Liễu Hạnh, Thánh Mẫu Thiên Ya Na, triều đình phong kiến với cái nhìn mang đậm chất Nho giáo đã phong thần cho Bà Đen với phẩm chất không chỉ là mộ đạo Phật mà còn là liệt nữ trung quân.
Sự thừa nhận mang tính quan phương này, thì Bà Chúa Xứ tuy được thờ phụng rộng rãi hơn nhưng lại không có được sự thừa nhận về phía triều đình Nho giáo.
Cũng lại là một mô thức Việt, ngày nay người ta đến Linh Sơn Bà Đen nhìn thấy ngọn Núi Bà và đối diện với nó là Núi Cậu, một cặp đôi có phần không cân xứng, nhưng phần nào cũng cho thấy tâm thức dương/cái, cha/mẹ, ông/bà, mà ở miếu Bà Chúa Xứ An Giang (Núi Bà Chúa Xứ/Núi ông Thoại Ngọc Hầu) cũng như ở Gò Tháp (Gò Bà Chúa Xứ và gò ông Thiên Hộ Dương).
Như vậy là trải qua một quá trình thâu nhận và hỗn dung giữa các yếu tố bản địa và những ảnh hưởng nhiều tầng lớp của Bàlamôn giáo, Chăm, Khơme và cuối cùng là Việt, Linh Sơn Thánh Mẫu Bà Đen, một vị Mẫu thần đa văn hóa đã dần hiện rõ vào cuối thế kỷ XIX đầu XX.