Từ Mẫu thần đến Mẫu Tam phủ, Tứ phủ

Từ Mẫu thần đến Mẫu Tam phủ, Tứ phủ

Tục thờ Mẫu thần, Mẫu Tam phủ, Tứ phủ (Tam Tòa Thánh Mẫu) có quan hệ mật thiết với tục thờ Nữ thần, tuy nhiên chúng không phải là đồng nhất. Nói cách khác, Mẫu đều là Nữ thần nhưng không phải tất cả Nữ thần đều là Mẫu thần, mà chỉ một số Nữ thần được tôn vinh là Mẫu thần. Cũng tương tự như vậy ta có thể nói về tục thờ Mẫu thần và Mẫu Tam Phủ, Tứ Phủ. Rõ ràng là đạo Mẫu gắn liền với tục thờ Mẫu dân gian, nhưng như thế không có nghĩa mọi Mẫu thần đều thuộc điện thần của đạo Mẫu. Mẫu Tam Phủ, Tứ Phủ tức Tam Tòa Thánh Mẫu là một bước phát triển, một quá trình “nâng cao” từ một số hành vi tôn thờ rời rạc đến một thứ tín ngưỡng, một đạo có tính hệ thống hơn.

Danh xưng Mẫu là gốc từ Hán Việt, còn thuần Việt là Mẹ, Mụ (thổ ngữ miền Trung). Nghĩa ban đầu, Mẫu hay Mẹ đều để chỉ một người phụ nữ đã sinh ra một người nào đó, là tiếng xưng hô của con đối với người sinh ra mình. Ngoài ý nghĩa xưng hô thông thường, từ Mẫu và Mẹ còn bao hàm ý nghĩa tôn xưng, tôn vinh, chẳng hạn như Mẹ Âu Cơ, Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu nghi thiên hạ.

Trong phần này cũng như các phần sau, chúng tôi thường dùng ba thuật ngữ: Tam Tòa Thánh Mẫu (Ba vị Thánh Mẫu), Mẫu Tam Phủ, Tứ Phủ đều cùng chỉ một nội dung, một hình thức tôn giáo, tín ngưỡng.

Tuy chưa thống kê đầy đủ, nhưng cách tôn xưng là Mẫu, Quốc Mẫu, Vương Mẫu, Thánh Mẫu, đều liên quan tới các trường hợp sau:

  • Các vị Thánh đứng đầu trong tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ Phủ: Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải, Mẫu Địa, Thánh Mẫu Thiên Y A Na đều được tôn xưng là Thánh Mẫu.
  • Các Thái Hậu (mẹ Vua), Hoàng Hậu (vợ Vua), Công Chúa (con Vua) có tài năng, đức độ, có công lao lớn, hiển linh thì được tôn xưng là Mẫu: Quốc Mẫu, Vương Mẫu. Đó là các trường hợp Hoàng Hậu và 3 công chúa Vua Tống (Tống Hậu), Thái Hậu họ Đỗ (?) thờ làm Thành hoàng ở làng Dịch Vọng, Từ Liêm, Hà Nội, tương truyền bà là mẹ vua Lý Thánh Tông, Quốc Mẫu (có nơi gọi là Thánh Mẫu), Ỷ Lan ở Quán Đồng Thiên, phố Đồng Thiên, ở đền Bà Tấm, Gia Lâm, Hà Nội. Con gái vua Hùng Nghị Vương, tôn là Thánh Mẫu thờ ở Đền Cao Mại, huyện Phong Châu, Phú Thọ, vợ vua Hùng cũng được phong là Tây Thiên Quốc Mẫu, đền thờ ở đỉnh núi Tây Thiên thuộc tỉnh Vĩnh Phúc. Một vài trường hợp khác được tôn xưng là Mẫu, như Diệp Phu Nhân, được tôn là Quốc Mẫu Thánh Ân, thờ ở ngôi đền cùng tên ở huyện Trấn Yên, Yên Bái. Hay Nữ Thần Tam Đảo, là mẹ của Thần Núi Tản Viên cũng được phong là Quốc Mẫu (Trụ Quốc Thái phu nhân hay Quốc Mẫu Sơn thượng đẳng thần), đền thờ ở Tam Dương, Vĩnh Phúc. Mẹ thân sinh ra Thánh Gióng cũng được xưng là Vương Mẫu và lập đền thờ ở cạnh Đền Gióng, Hà Nội. Ở miền Nam có các miếu, điện thờ Nữ thần với danh xưng là Chúa. Phổ biến hơn cả là các miếu thờ Bà Chúa Ngọc, Bà Chúa Xứ mà nhiều nơi đồng nhất Bà với Thánh Mẫu Thiên Y A Na. Các miếu đó nằm rải rác suốt từ trung và nam Trung Bộ vào đến Nam Bộ, là hiện tượng “Việt hóa” Nữ thần Pô Inư Nưgar của người Chăm, trở thành vị thần của người Việt phương Nam. Các vị thần như núi Sam (Bà Chúa Xứ) và Núi Linh Sơn (Bà Đen) cũng đều được tôn xưng là các Bà Chúa. Ngoài ra còn có các bà Chúa khác theo cách gọi của người Việt Nam Bộ: Bà Chúa Sắt (Bà Chúa Thiếc), Bà Kim, Bà Mộc, Bà Thủy, Bà Hỏa. Một số Nữ thần này cũng được tôn vinh là Mẫu, Thánh Mẫu, như Thánh Mẫu Thiên Y A Na, Linh Sơn Thánh Mẫu – Bà Đen. Không phải dễ dàng lắm khi nêu ra quy luật của quá trình chuyển từ các Nữ thần thành các vị thần được dân gian tôn vinh là Mẫu thần (Quốc Mẫu, Thánh Mẫu và Vương Mẫu). Tuy nhiên với những trường hợp vừa dẫn ra ở trên, thì đa phần đó là các vị thần linh gắn liền với các hiện tượng thiên nhiên, vũ trụ được người đời gắn cho chức năng sáng tạo, bảo trợ và che chở cho sự sống của con người. Đó là trời, đất, sông nước, rừng núi thành Mẫu Thiên, Mẫu Địa, Mẫu Thoải và Mẫu Thượng Ngàn, Thần núi Tam Đảo, núi Ngọc Trản ở Huế và Linh Sơn ở Nam Bộ. Các Mẫu cũng có gốc tích nhân thần, trong đó tuyệt đại đa số là các Thái Hậu, Hoàng Hậu, Công Chúa, những người khi sống đều tài giỏi, có công lao lớn với dân với nước, khi mất hiển linh và được tôn vinh là Quốc Mẫu, Vương Mẫu. Về cội nguồn và bản chất thì việc thờ Nữ thần và Mẫu thần vừa nêu trên đều thuộc tín ngưỡng thờ thần của người Việt Nam, mà nhà khảo cứu Toan Ánh đã gọi là Đạo Thờ Thần. Đó là việc thờ cúng Thổ Công, Thần Tài, các Thánh Sư, Thành Hoàng, các vị thần “Tứ Bất Tử”, các thần núi, thần sông, thần hồ, thần biển, các vị anh hùng dân tộc được phong thần. Từ việc thờ Nữ thần, Mẫu thần đến các Mẫu Tam Phủ, Tứ Phủ là một bước phát triển về nhiều mặt. Tác nhân của sự phát triển ấy không chỉ có nhân tố nội sinh mà cả ngoại sinh nữa, trong đó trước nhất phải kể tới ảnh hưởng Đạo giáo Trung Quốc. Đạo Mẫu Tứ Phủ so với tín ngưỡng thờ Thần đã có bước phát triển đáng kể về tính hệ thống của nó. Trước nhất, một tín ngưỡng vốn tán mạn, rời rạc, nay bước đầu có một hệ thống tương đối nhất quán về điện thần với các phủ, các hàng tương đối rõ rệt. Một điện thần với hàng mấy chục vị đã dần quy về một vị thần cao nhất là Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Tín ngưỡng thờ Mẫu, một tín ngưỡng dân gian bước đầu đã chứa đựng những nhân tố về một hệ thống vũ trụ luận nguyên sơ, một vũ trụ thống nhất chia thành bốn miền do hóa thân bốn vị thánh Mẫu cai quản. Đó là miền trời (Mẫu Thiên), miền đất (Mẫu Địa), miền sông biển (Mẫu Thoải) và miền núi rừng (Mẫu Thượng Ngàn). Một tín ngưỡng bước đầu thể hiện một ý thức nhân sinh, ý thức về Phúc, Lộc, Thọ, ý thức cội nguồn dân tộc, lòng yêu nước, một thứ chủ nghĩa yêu nước đã được linh thiêng hóa mà Mẫu chính là biểu tượng cao nhất. Một tín ngưỡng dân gian đã bước đầu hình thành một hệ thống thờ cúng trong các đền phủ, những nghi lễ đã được chuẩn hóa, trong đó Hầu bóng (Lên đồng) và lễ hội “tháng Tám giỗ cha, tháng Ba giỗ mẹ” là một điển hình.

Tất nhiên, bên cạnh đó, đạo Mẫu Tam Phủ, Tứ Phủ còn ẩn chứa nhiều yếu tố của tín ngưỡng, ma thuật dân gian, những sắc thái và biến dạng địa phương, khiến người mới bước vào tìm hiểu lĩnh vực này cảm thấy như bị lạc vào một thế giới thần linh hỗn độn, tùy tiện, phi hệ thống.

Để từ tục thờ Thần, Nữ Thần và Mẫu Thần phát triển lên thành Đạo Mẫu Tam Phủ, Tứ Phủ thì những ảnh hưởng của Đạo giáo Trung Quốc có vai trò quan trọng. Theo nhiều nhà nghiên cứu, Đạo giáo Trung Hoa du nhập vào nước ta khá sớm, ít nhất cũng trong thời Bắc thuộc. Thời Đinh, Tiền Lê, Lý và Trần thì Lão giáo là một trong “Tam giáo đồng nguyên”. Nhà vua từng đứng ra tấn phong cho các đạo sĩ, trong các trường thi cũng có các đề nói về Đạo giáo, nhiều người trong hoàng tộc cũng là các đạo sĩ. Lý thuyết Lão gia đã ăn sâu vào ý thức nhiều trí thức đương thời, nhiều ma thuật, phương thuật của Đạo giáo lan truyền trong nhân dân. Đến thời Lê, Nho giáo thịnh đạt, Đạo giáo không được coi trọng, nhưng triết lý cũng như phép thuật của nó không phải không lưu hành rộng rãi. Điển hình là việc vua Lê Thần Tông đã cho phép Trần Lộc lập ra Nội Đạo Tràng.

Đạo Mẫu và các tín ngưỡng dân gian khác tiếp thu ảnh hưởng của Đạo giáo Trung Quốc về nhiều phương diện. Đó là các quan niệm về tự nhiên, đồng nhất con người với tự nhiên, về quan niệm Tứ Phủ, Tam Phủ, một số vị Thánh của Đạo giáo thâm nhập vào diện thần Tứ Phủ, như Ngọc Hoàng, Thái Thượng Lão Quân, Nam Tào, Bắc Đẩu.

Trong Đạo giáo Trung Hoa không có quan niệm Tam Phủ mà chỉ có Tam Quan (Thiên Quan, Địa Quan, Thủy Quan), mà đứng đầu là các vị nam thần. Phải chăng khái niệm Tam Quan Trung Hoa đã trở thành Tam Phủ của Đạo Mẫu Việt Nam? Thế còn Nhạc Phủ cũng có nguồn gốc từ vị thần núi của Trung Hoa được tiếp nhận vào điện thần Đạo Mẫu và trở thành Tứ Phủ?

Đó còn là các truyện thần tiên huyền ảo, các phép thuật mang tính phù thủy để trừ tà ma. Ngay lễ thức Lên đồng tuy mang sắc thái đạo Mẫu Việt Nam rõ rệt nhưng không phải không chịu những ảnh hưởng của hình thức nhập đồng của Đạo giáo Trung Quốc. Chính những ảnh hưởng này, một mặt giúp đạo Mẫu ‘lên khuôn’, hệ thống hóa và bước đầu mang tính phổ quát nguyên lý Mẫu, Mẹ, nhưng mặt khác cũng làm tăng thêm tính ma thuật, phù thủy mà vốn trong dân gian đã từng tiềm ẩn.

Như vậy, trên cơ sở tín ngưỡng Mẫu Thần dân gian, với những ảnh hưởng của Đạo giáo Trung Quốc đã hình thành và định hình đạo Mẫu Tam Phủ, Tứ Phủ (Tam Tòa Thánh Mẫu), một thứ đạo giáo đặc thù của Việt Nam, có thể nói một cách ngắn gọn hơn và thực chất hơn là Đạo Mẫu.

Trong công trình này, chúng tôi lấy tên là Đạo Mẫu Việt Nam với ý thức về một loại hình tín ngưỡng mang bản sắc Việt Nam rõ rệt, chứ không chỉ là Đạo Mẫu mang tính phổ quát được thờ ở Việt Nam.

Chúng ta có thể hệ thống hóa mối quan hệ giữa thờ Nữ Thần đến Mẫu Thần và Đạo Mẫu Tam Phủ, Tứ Phủ

Như vậy, Đạo Mẫu Tam Phủ, Tứ Phủ hình thành và phát triển trên nền tảng thờ Nữ thần và Mẫu thần, nhưng sau khi đã hình thành rồi thì Đạo Mẫu Tam Phủ, Tứ Phủ lại tác động ảnh hưởng theo xu hướng “Tam Phủ, Tứ Phủ hoá” tín ngưỡng thờ Nữ thần và Mẫu thần. Điều này chúng ta thường thấy khá phổ biến ở các đền, miếu thờ Nữ thần và Mẫu thần, thể hiện qua cách phối thờ, các hình thức trang trí, tranh tượng, các lễ vật, tục hát chầu văn…